THỜI HỌ KHÚC, NGÔ, ĐINH, TIỀN LÊ
I- TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
2. Hải Dương thời họ Khúc, họ Dương và triều Ngô xây dựng nền
Tháng Tư năm Ất Sửu (tháng 5/905), Độc Cô Tổn được cử sang Giao Châu làm Tiết độ sứ, nhưng vì mâu thuẫn nội bộ bị biếm chức rồi sau đó bị giết chết.
Nhân cơ hội chính quyền đô hộ nhà Đường ở Giao Châu không còn người đứng đầu, Khúc Thừa Dụ được sự ủng hộ của dân chúng đã nổi dậy đánh chiếm thành Đại La, lật đổ chính quyền đô hộ, tự xưng là Tiết độ sứ. Sự kiện này mở ra thời kỳ độc lập lâu dài của dân tộc sau hơn 1.000 năm Bắc thuộc. Đây cũng là một dấu mốc quan trọng thể hiện vai trò và vị thế vùng đất Hải Dương trong lịch sử dân tộc.
a) Họ Khúc và đất Hồng Châu (Ninh Giang - Hải Dương)
Họ Khúc là một dòng họ lớn lâu đời ở Hồng Châu (tức Hải Dương ngày nay). Khúc Thừa Dụ vốn là một hào trưởng có nhiều thế lực và uy tín trong vùng. Tuy là một quý tộc giàu có, nhưng ông lại có cuộc sống rất gần gũi và yêu thương dân chúng. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn viết về ông như sau: “Thừa Dụ tính khoan hòa hay thương người, được dân chúng suy tôn. Gặp thời loạn lạc, nhân danh là hào trưởng một xứ”1.
- Ghi chép về Khúc Thừa Dụ trong các bộ sử:
Công cuộc xây dựng nền tự chủ của dân tộc ở thế kỷ X được mở đầu với việc Khúc Thừa Dụ giành quyền Tiết độ sứ từ tay chính quyền đô hộ nhà Đường và được con cháu họ Khúc tiếp tục truyền nhau xây dựng, giữ gìn qua các đời Khúc Hạo và Khúc Thừa Mỹ. Tuy nhiên, ghi chép về họ Khúc trong các bộ sử Việt Nam thời quân chủ khá sơ lược, như trong Việt sử lược2 (Tác giả khuyết danh đời Trần thế kỷ XIV), An Nam chí lược (Lê Tắc), Đại Việt sử ký toàn thư
1. Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.1, tr.218.
2. Theo Trần Quốc Vượng: “Việt sử lược là bộ sách soạn đời Trần... Bộ sách này ở nước ta cũng thất truyền. Đến đời Càn Long nhà Thanh (1736 - 1795), bộ sách này mới được đem in ra, nói là theo bản của tuần phủ Sơn Đông thu nhặt được đem dâng lên vua...
theo Tứ khố toàn thư tổng mục đề yếu thì bộ sách này nguyên đề là Đại Việt sử lược. Đại Việt là quốc hiệu nước ta thời Lý - Trần... Chắc là người Thanh khi in sách này đã bỏ bớt chữ Đại đi (dẫn theo Tác giả khuyết danh đời Trần thế kỷ XIV: Việt sử lược (Trần Quốc Vượng dịch và chú thích), Nxb. Thuận Hóa và Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Huế, 2005, tr.5-7).
(Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê), Đại Việt sử ký tiền biên, Việt sử tiêu án (Ngô Thì Sĩ), Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Quốc sử quán triều Nguyễn), Việt sử cương mục tiết yếu, Sử học bị khảo (Đặng Xuân Bảng)...
Những ghi chép này cũng còn những chỗ dị biệt, chưa hoàn toàn thống nhất:
Việt sử lược là một trong những bộ sử thành văn xuất hiện sớm nhất trong lịch sử Sử học Việt Nam. Việt sử lược gồm 3 quyển ghi chép sơ lược về lịch sử Việt Nam từ những sự thay đổi trong nước buổi đầu hình thành đến năm 1226, khi vua Lý Huệ Tông qua đời. Phần ghi chép về họ Khúc trong sách này nằm ở quyển I. Tuy nhiên, trong Việt sử lược không nhắc đến Khúc Thừa Dụ, mà chỉ nhắc đến Khúc Hạo và Khúc Thừa Mỹ. Tác giả cho là việc giành chính quyền của họ Khúc được bắt đầu bằng Khúc Hạo với sự kiện “Khúc Hạo. Năm đầu niên hiệu Khai Bình nhà Lương (907), làm Tiết độ sứ thay Tổn”. Sau khi Khúc Hạo qua đời thì em trai ông (?) là Khúc Toàn Mỹ “thay Hạo làm Tiết độ sứ”.
Sau đó, “năm đầu hiệu Trường Hưng đời Minh Tông nhà Hậu Đường (930), chúa Nam Hán là Lưu Nghiễm sai bọn tướng Lương Khắc Chân tới đánh châu ta, bắt Tiết độ sứ Khúc Toàn Mỹ, lấy tướng là Nguyễn (Lý) Tiến sang thay”1. Như vậy, theo Việt sử lược thì họ Khúc nắm quyền điều hành đất nước từ năm 907 đến năm 930 với 2 đời làm Tiết độ sứ là Khúc Hạo và Khúc Toàn Mỹ.
Trong sách Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê cũng chú ý ghi chép về chính quyền họ Khúc ở thế kỷ X, tuy nhiên, những ghi chép này cũng chưa được đầy đủ. Đại Việt sử ký toàn thư chưa có phần biên chép về Khúc Thừa Dụ, mà chỉ quan tâm Khúc Hạo và Khúc Thừa Mỹ.
Những thông tin về họ Khúc được chép từ năm 907 đến năm 923 với một số đoạn như sau: “Đinh Mão [907]... người Giao Châu là Khúc Hạo chiếm giữ châu trị, xưng là Tiết độ sứ... Đinh Sửu [917],... Khúc Hạo sai con là Thừa Mỹ làm Hoan hảo sứ sang Quảng Châu để thăm dò tình hình [Nam Hán] hư thực thế nào. Hạo chết, Khúc Thừa Mỹ lên thay... Kỷ Mão [919]... Khúc Thừa Mỹ sai sứ sang nhà Lương xin được lĩnh tiết việt, nhà Lương trao cho... Quý Mùi [923]... Mùa thu, tháng 7, vua Hán sai kiêu tướng là Lý Khắc Chính đem
1. Tác giả khuyết danh đời Trần thế kỷ XIV: Việt sử lược, Sđd, tr.37. Trong cuốn sách này, Khúc Thừa Mỹ được gọi là Khúc Toàn Mỹ.
quân sang đánh Giao Châu, bắt được Tiết độ sứ là [Khúc] Thừa Mỹ đem về”1. Như vậy, giữa Việt sử lược và Đại Việt sử ký toàn thư đã có những sự khác nhau khi viết về họ Khúc: Việt sử lược cho là họ Khúc nắm quyền tiết độ sứ trong 23 năm (907 - 930) với hai đời tiết độ sứ là hai anh em. Trong Đại Việt sử ký toàn thư ghi là hai cha con Khúc Hạo và Khúc Thừa Mỹ thay nhau làm Tiết độ sứ trong 16 năm (907 - 923).
Sách An Nam chí lược do Lê Tắc, gia thần của Trần Ích Tắc sống lưu vong ở Trung Quốc biên soạn đầu thế kỷ XIV cũng là cuốn sử có niên đại khá sớm viết về lịch sử Việt Nam, nhưng cũng chỉ chép sơ sài vài dòng nói đến Khúc Hạo và Khúc Thừa Mỹ: “Khúc Hạo: Chiếm cứ Giao Chỉ. Lúc ấy, Lưu Ẩn chiếm cứ Phiên Ngung, Ẩn chết, con là Lưu Nghiễm kế lập, xưng quốc hiệu là Nam Hán. Khúc Hạo khiến con là Thừa Mỹ qua làm Khuyến hảo sứ, đến Quảng Châu để dò xét thực hư. Hạo chết, Thừa Mỹ kế ngôi cha; năm Kỷ Mão, niên hiệu Trinh Minh nhà Lương năm đầu (915), khiến sứ tiến cống, cầu lãnh tiết việt, nhà Lương nhân trao cho. Lưu Nghiễm cả giận, tháng Chín năm Đại Hữu thứ 3 (930) đời Ngụy Hán, khiến tướng mạnh là Lương Khắc Chính đem binh đến đánh, bắt Thừa Mỹ đem về. Khắc Chính lưu giữ Giao Chỉ, sau bị Dương Đình Nghệ đuổi”2.
Trong ba bộ sử có niên đại khá sớm đều chưa thấy nhắc đến Khúc Thừa Dụ với tư cách là người đầu tiên giành quyền tự chủ cho dân tộc. Đến khoảng thế kỷ XVIII, XIX có thêm nhiều bộ sử do nhà nước hoặc tư nhân biên soạn ghi chép thêm về Khúc Thừa Dụ và họ Khúc như: Đại Việt sử ký tiền biên, Việt sử tiêu án (Ngô Thì Sĩ), Kiến văn tiểu lục (Lê Quý Đôn), Việt sử cương mục tiết yếu (Đặng Xuân Bảng), Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Quốc sử quán triều Nguyễn).
Trong đó có những sách chép khá đầy đủ về việc họ Khúc gắn bó với quê hương và lịch sử dân tộc, nhưng cũng có sách chỉ sơ lược biên chép vài dòng, thậm chí có những thông tin được ghi chép chưa xác thực.
1. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.201-202.
2. Lê Tắc: An Nam chí lược, Nxb. Thuận Hóa - Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, 2002, tr.224-225.
Việt sử tiêu án và Đại Việt sử ký tiền biên của Ngô Thì Sĩ được biên soạn cuối thế kỷ XVIII là những bộ sử tư nhân sớm ghi chép đầy đủ về Khúc Thừa Dụ và công cuộc giành quyền tự chủ cho dân tộc của họ Khúc ở thế kỷ X. Cả hai tác phẩm này đều xác nhận Khúc Thừa Dụ là người Việt đầu tiên giành quyền Tiết độ sứ Giao Châu từ chính quyền đô hộ phương Bắc ở đầu thế kỷ X. Sách Việt sử tiêu án chép: “Họ Khúc là người Hồng Châu, là họ to nối đời, tiên tổ là Thừa Dụ, tính khoan hòa, yêu người, được nhiều người quy phục, khi Tăng Cổn bỏ phủ thành, Thừa Dụ tự xưng Tiết độ sứ, xin với triều đình Đường, vua Đường nhân thế nhận cho làm chức ấy... Họ Khúc truyền 3 đời, cộng 51 năm”1. Sách Đại Việt sử ký tiền biên cho biết thêm chi tiết: Khúc Thừa Hựu (Thừa Dụ) làm Tiết độ sứ từ năm Ất Sửu (905), đến năm Bính Dần (906) được vua Đường gia phong chức Đồng bình chương sự. Năm 905 cũng được Ngô Thì Sĩ lấy làm mốc kết thúc thời kỳ nội thuộc Tùy Đường kéo dài 304 năm (từ năm 601). 51 năm cầm quyền của họ Khúc được ông tính từ năm Canh Tý (880)2 đến hết năm Canh Dần (930)3.
Trong các tác phẩm của Lê Quý Đôn không có cuốn sử nào viết về lịch sử thế kỷ X, tuy nhiên, trong một số khảo cứu của mình, Lê Quý Đôn có đôi lần nhắc đến quê hương và thân thế của Khúc Thừa Dụ với một vài điểm khác Ngô Thì Sĩ. Sách Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn có khẳng định ba đời họ Khúc cầm quyền là: Thừa Dụ tức là Khúc Tiên chúa, Khúc Hạo và Khúc Thừa Mỹ đều là con cháu4. Về quê hương họ Khúc ở đất Hồng Châu, Lê Quý Đôn có quan điểm hơi khác khi ông viết trong Kiến văn tiểu lục: “Xã Lỗ Xá, huyện Cẩm Giàng, có đền thờ Khúc Tiên chúa. Tương truyền Tiết độ sứ họ Khúc quê quán ở đây. Nay trong xã nhiều người mang tên là họ Khúc”5. Quan điểm này cũng được các sử thần trong Quốc sử quán triều Nguyễn thể hiện
1. Ngô Thì Sĩ: Việt sử tiêu án (Hội Việt Nam nghiên cứu liên lạc văn hóa Á châu dịch), Nxb. Văn Sử, 1991, tr.77-78.
2. Có lẽ sách chú nhầm năm Canh Tý 880 thành năm 820.
3. Xem Ngô Thì Sĩ: Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997, tr.135-138.
4. Dẫn theo Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.1, tr.218.
5. Lê Quý Đôn toàn tập, Tập II - Kiến văn tiểu lục, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tr.444.
trong sách Đại Nam nhất thống chí có ghi: “Đền Khúc Tiên chúa: ở xã Lỗ Xá, huyện Cẩm Giàng”1.
Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn dưới triều vua Tự Đức ở giữa thế kỷ XIX là bộ sách lớn, có nội dung biên soạn dài nhất về thời gian so với các bộ sử trước đó, với 5 quyển tiền biên viết về lịch sử từ thời Hùng Vương đến năm Đinh Sửu (967) và 47 quyển chính biên chép các sự kiện từ khi Đinh Tiên Hoàng lên ngôi đến năm Kỷ Dậu (1789). Khi viết về họ Khúc, sách này cũng đồng tình về quê hương họ Khúc ở đất Hồng Châu, Khúc Thừa Dụ chính là người giành quyền Tiết độ sứ đầu tiên vào năm Ất Sửu (905); ba đời họ Khúc nối quyền Tiết độ sứ từ năm Ất Sửu (905) đến năm Quý Mùi (923) thì kết thúc với việc Khúc Thừa Mỹ bị Lý Khắc Chính bắt về Nam Hán2.
Đến cuối thế kỷ XIX và những thập niên đầu thế kỷ XX, những sự kiện liên quan đến họ Khúc còn được ghi chép qua một số bộ sử tư nhân như:
Việt sử cương mục tiết yếu của Đặng Xuân Bảng, Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, Đại Nam dật sử - Sử ta so với sử Tàu của Nguyễn Văn Tố. Tuy có một số nội dung chưa thống nhất, nhưng các cuốn sử trên đều khẳng định sự tồn tại, vai trò của Khúc Thừa Dụ và họ Khúc trong lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ X.
Như vậy, qua ghi chép của một số bộ sử của nhà nước cũng như tư nhân đã cho thấy: sự kiện họ Khúc lên nắm quyền điều hành vùng đất Giao Châu với vai trò là những Tiết độ sứ người Việt đầu tiên từ năm Ất Sửu (905) đã mở ra con đường tự chủ vươn lên giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt sau khi trải qua hơn 1.000 năm liên tục đấu tranh dưới ách áp bức, bóc lột của phong kiến phương Bắc.
Trong các ghi chép về Khúc Thừa Dụ và họ Khúc còn một số điểm chưa thống nhất như: Họ Khúc nắm quyền tổng cộng bao nhiêu năm? Thời điểm họ chấm dứt vai trò lịch sử là năm Quý Mùi (923) hay năm Canh Dần (930)? Tên tuổi của các nhân vật cũng có những biên chép khác nhau như Tiên chúa Khúc Thừa Dụ có khi được viết là Khúc Thừa Hựu; Khúc Hạo hay Khúc Thừa Hiệu;
1. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1997, t.III, tr.425.
2. Xem Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.1, tr.217-219.
Khúc Thừa Mỹ hay Khúc Toàn Mỹ... Và đặc biệt là vấn đề quê hương họ Khúc ở khu vực nào trên đất Hồng Châu: ở Cúc Bồ hay ở Lỗ Xá?
- Cúc Bồ, Ninh Giang, Hải Dương - Vấn đề quê hương họ Khúc:
Sự kiện họ Khúc lãnh đạo nhân dân đứng lên giành quyền tự chủ cho dân tộc vào đầu thế kỷ X (năm Ất Sửu, 905) là một mốc bản lề của lịch sử dân tộc, đặt nền móng cho kỷ nguyên độc lập lâu dài và phát triển hưng thịnh của quốc gia Đại Việt. Nhiều nguồn sử liệu khẳng định rằng: họ Khúc là dòng họ lớn ở Hồng Châu (tức vùng đất Hải Dương, Hải Phòng và một phần đất Hưng Yên, Quảng Ninh ngày nay). Mặc dù vậy, vấn đề quê hương họ Khúc là nơi nào trên đất Hồng Châu rộng lớn thì các thư tịch cổ còn những biên chép chưa thống nhất. Cụ thể, có hai luồng ý kiến khác nhau về quê hương họ Khúc như trên đã dẫn: ý kiến thứ nhất cho là Khúc Thừa Dụ quê ở làng Cúc Bồ (nay thuộc xã Kiến Quốc, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương); ý kiến thứ hai cho là đất khởi nghiệp của họ Khúc ở Lỗ Xá (nay thuộc thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên).
Trong các bộ chính sử của nước ta hoặc các bộ sử tư nhân thời quân chủ (như đã dẫn ở trên) ít nhiều có biên chép và đánh giá cao về sự kiện Khúc Thừa Dụ giành quyền Tiết độ sứ và việc kế tục chức vụ này của Khúc Hạo và Khúc Thừa Mỹ đã nâng tầm ý thức dân tộc Việt Nam, tạo động lực cho công cuộc giành và giữ độc lập dân tộc của các thế hệ sau này. Tuy nhiên, trong các thư tịch Hán Nôm của địa phương như: Hải Dương phong vật chí, Hải Đông chí lược, Hải Dương địa dư hay Hải Dương tỉnh địa chí đều không thấy nhắc đến những sự kiện đáng tự hào này của địa phương. Điểm qua các sách địa chí cổ ở Hải Dương chỉ thấy có sách Hải Dương địa dư1 có một dòng viết với nội dung: “Đền Khúc tiên sinh ở xã Lỗ Xá, huyện Cẩm Giàng”2. Thực chất tác giả cũng thừa nhận nội dung này được dẫn từ sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn.
Như vậy, vấn đề xác định quê hương họ Khúc không thể chỉ căn cứ trên những tư liệu thành văn, mà cần có sự kết hợp giữa nhiều nguồn tư liệu, với nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau mới có thể đưa ra kết luận chính xác.
1. Sách Hải Dương địa dư do Tổng đốc Hải Dương Phan Tam Tỉnh biên soạn cuối thế kỷ XIX, theo yêu cầu của Quốc sử quán triều Nguyễn.
2. Đinh Khắc Thuân (Chủ biên): Địa phương chí tỉnh Hải Dương qua tư liệu Hán Nôm, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009, tr.328.
Khảo sát tư liệu thực địa về hai địa danh làng Cúc Bồ và Lỗ Xá cho thấy kết quả như sau:
Làng Cúc Bồ xưa kia thuộc tổng Can Trì, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương1. Ngày nay, làng Cúc Bồ thuộc xã Kiến Quốc, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Làng Cúc Bồ hiện nay có 9 dòng họ cùng sinh sống, gồm: Bùi, Nguyễn, Hoàng, Phạm, Phan, Trần, Tăng, Đặng, Đoàn. Trong đó, họ Bùi có tới 25 họ khác nhau, họ Nguyễn có 7 họ khác nhau. Hiện nay, dân làng Cúc Bồ không còn ai mang họ Khúc.
Qua khảo sát tại ngôi đình mới của Cúc Bồ (xây lại năm 1990) cho thấy, ở đây có tấm bia Thạch Quán bi (Bia quán đá), được dựng vào năm Gia Long thứ 18 (1819) và một cây hương đá Kim Liên thiền tự có niên đại Tự Đức thứ 7 (1854)2. Trên cây hương đá có khắc bài minh và kèm theo là những dòng khắc tên của một số tín chủ thuộc các thôn An Cúc, Bồ Dương và Cúc Thôn góp tiền, ruộng vào việc dựng chùa. Trong hai tư liệu này đều không có ai mang họ Khúc mà chỉ có các họ Phan, Hoàng, Tăng, Trần, Nguyễn, Bùi và một số dòng họ khác ở các làng xã xung quanh3.
Tuy nhiên, trong bản khai lý lịch thần tích, thần sắc đình làng Cúc Bồ do Lý trưởng Bùi Văn Ruẩn, khai vào năm 19384: làng Cúc Bồ thờ vị nhân thần là Dương Trinh Hiển, là thuộc tướng của Thái úy Lý Thường Kiệt, đã từng tham gia bình Chiêm, phạt Tống. Khi ngài tử trận, người vợ ở nhà liền đắm mình xuống sông Cúc (đoạn sông Luộc chảy qua Cúc Bồ còn có tên là sông Cúc) tuẫn tiết. Từ đó, vua phong cho ngài là Dương Trinh Hiển bảo quốc cứu dân, và phong cho phu nhân ngài là Thiên cực Đoan lượng Cẩn tiết Hiền minh cùng thờ trong đình làng5.
1. Xem Viện Nghiên cứu Hán Nôm: Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX (Dương Thị The - Phạm Thị Thoa dịch và biên soạn), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1981, tr.27-28.
2. Cây hương này trước kia được dựng ở chùa, nay dân làng mang về dựng trước cửa đình.
3. Trong Kỷ yếu Khúc Thừa Dụ và họ Khúc trong lịch sử dân tộc, Bảo tàng tỉnh Hải Dương, 1999, tr.15, tác giả Tăng Bá Hoành nghiên cứu nội dung hai văn bia tại làng Bồ Dương có niên đại thế kỷ XVII thấy có xuất hiện người họ Khúc trên văn bia.
4. Tài liệu chép tay, lưu tại Viện Thông tin Khoa học xã hội, ký hiệu TT-TS.
FQ4018/IX, tr.23.
5. Xem Viện Thông tin Khoa học xã hội: Thư mục thần tích, thần sắc, Hà Nội, 1996, tr.500.