III- VĂN HÓA, GIÁO DỤC VÀ KHOA HỌC KỸ THUẬT
2. Giáo dục, khoa cử
- Giáo dục thời Lý:
Sau khi dời đô về Thăng Long, cùng với việc xây dựng đất nước, các vua đầu triều Lý đã bắt đầu chú ý tới việc phát triển giáo dục, khoa cử. Tuy vậy, thời kỳ đầu triều Lý, việc dạy và học chủ yếu dựa vào nhà chùa ở làng xã với thầy dạy là những nhà sư - những người có học vấn cao trong xã hội lúc bấy giờ. Lý Công Uẩn cũng được học tập và trưởng thành từ nhà chùa nên ông rất chú ý xây dựng và phát triển hệ thống chùa tháp, làm nơi truyền bá Phật giáo và mở mang việc học trong dân chúng.
Đến năm Canh Tuất (1070), vua Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu làm nơi thờ Khổng Tử và các vị tiên hiền, cũng là nơi học tập của các hoàng tử. Sáu năm sau, năm Bính Thìn (1076), Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử Giám, trước hết cho con em trong hoàng tộc đến học. Quốc Tử Giám đã trở thành trường công đầu tiên của nhà nước quân chủ Việt Nam.
- Giáo dục thời Trần:
Dưới thời Trần, cùng với việc nâng cao vị thế của Nho giáo gắn liền với nhu cầu phát triển của chế độ quân chủ tập quyền, giáo dục và thi cử được tổ chức ngày một quy củ và chặt chẽ hơn. Để phát triển giáo dục, việc xây dựng hệ thống trường lớp là mối quan tâm đầu tiên của nhà nước. Trường học thời Trần được xây dựng với các hình thức cơ bản như trường công do nhà nước lập ở kinh đô, trường công ở địa phương và trường tư2.
Dưới thời Trần có một số nho sĩ Hải Dương đã mở trường tư, như trường của Mạc Đĩnh Chi, Chu Văn An, Phạm Sư Mạnh... Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Hải Dương còn di tích của một số trường học trên.
1. Xem Hải Dương địa dư, in trong Địa phương chí tỉnh Hải Dương qua tư liệu Hán Nôm, Sđd, tr.300.
2. Xem Nguyễn Tiến Cường: Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở Việt Nam thời phong kiến, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr.97.
Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, sau khi về trí sĩ đã mở trường dạy học tại quê nhà ở Lũng Động, huyện Chí Linh (nay thuộc thôn Linh Khê, xã Nam Tân, huyện Nam Sách)... Sau đó, ông tới xã Kiệt Đặc (nay thuộc phường Văn An, thành phố Chí Linh). Trường cũ của Trạng nguyên, về sau người dân Chí Linh dựng đền thờ ông, xuân thu nhị kỳ đều có tế lễ. Trạng nguyên cổ đường nay thuộc xã Thanh Quang, huyện Nam Sách, là nơi đặt Văn chỉ của phủ Nam Sách xưa, được xếp vào hàng Chí Linh bát cổ. Trải qua nhiều biến thiên của lịch sử, Trạng nguyên cổ đường bị hư hại, nay đã được khôi phục. Ngày nay, người ta còn tìm thấy một số địa điểm mà ngày trước Mạc Đĩnh Chi ngồi dạy học như ở xã Cao Đôi hay ở chùa Kiều Lâm, xã Tống Xá. Những di tích ấy đến nay vẫn còn1.
Thầy Chu Văn An2 quê ở thôn Văn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (nay thuộc xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội). Ông từng được vua Trần Minh Tông (trị vì 1314 - 1329) mời làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám, dạy học cho thái tử và con các quan lại. Đời Trần Dụ Tông (trị vì 1341 - 1369), vua ham chơi, trễ nải chính sự, tin dùng bọn quyền thần, Chu Văn An dâng Thất trảm sớ, xin chém bảy tên nịnh thần. Vua Trần Dụ Tông không nghe, ông đã treo mũ từ quan, về quê dạy học. Sau ông đến xã Kiệt Đặc (nay thuộc phường Văn An, thành phố Chí Linh), nơi có 72 ngọn núi, nhất là núi Phượng Hoàng có phong cảnh đẹp, ở lại, dựng nhà dạy học bên sườn núi Phượng Hoàng, học trò đến học rất đông3. Chu Văn An mất năm Canh Tuất (1370) ở Chí Linh, mộ đặt bên sườn phía nam núi Phượng Hoàng, học trò làm nhà bên mộ thầy để quanh năm tế lễ, tỏ lòng thương tiếc.
1. Xem Vũ Phương Đề: “Công dư tiệp ký”, in trong Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 1997, t.1, tr.579.
2. Trong một số tài liệu ghi tên thầy là Chu An. Có ý kiến cho rằng đó mới là tên đúng. Chu Văn An là nhầm vì gọi ghép thêm tên hiệu của ông là Văn Trinh. Nhưng một số tài liệu tin cậy như Đại Việt lịch triều đăng khoa lục, Tang thương ngẫu lục lại ghi rõ tên ông là Chu Văn An. Như vậy, có thể coi Chu Văn An và Chu An là hai tên gọi khác nhau của ông. Dẫn theo Vũ Tuấn Sán: “Chu Văn An, thầy dạy học và trí thức nổi tiếng cuối đời Trần”, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 137, tháng 2/1971, tr.43.
3. Xem Vũ Tuấn Sán: “Chu Văn An, thầy dạy học và trí thức nổi tiếng cuối đời Trần”, Tlđd, tr.47.
Phạm Sư Mạnh là một trong số những học trò thành đạt của thầy Chu Văn An. Khi chưa đỗ đạt, Phạm Sư Mạnh đã mở trường dạy học ở huyện Hiệp Sơn, phủ Kinh Môn (nay là phường Hiệp Sơn, thị xã Kinh Môn) quê hương ông, lấy hiệu là Hiệp Thạch tiên sinh1, có nhiều học trò trong vùng theo học.
Nhiều nho sĩ Hải Dương thời Trần đã học tập và trưởng thành từ những trường học tư được mở ở kinh thành Thăng Long. Có thể kể như trường của Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc, là con của Thượng hoàng Trần Thái Tông
“từng mở học đường ở bên hữu phủ đệ, họp các văn sĩ bốn phương cho học tập, cấp cho ăn mặc, dạy bảo nên tài như bọn Mạc Đĩnh Chi ở Bàng Hà, Bùi Phóng ở Châu Hồng, v.v., 20 người, đều dùng cho đời”2. Ven kinh thành Thăng Long có ngôi trường tư nổi tiếng của thầy giáo Chu Văn An, mở tại làng Huỳnh Cung (huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội ngày nay). Học trò nhiều nơi đến học rất đông, trong đó có những người thành đạt, thi đỗ ra làm quan to trong triều, như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát... Cuối thời Trần (thế kỷ XIV), còn có trường do Thiên chương Học sĩ Nguyễn Sĩ Cố mở3, cũng đào tạo được nhiều học trò giỏi như Phạm Tông Mại, Phạm Tông Ngộ. Họ đều là những học trò Xứ Đông giàu truyền thống hiếu học.
b) Khoa cử
- Khoa cử thời Lý:
Lịch sử khoa cử nước ta bắt đầu từ thời Lý với việc vua Lý Nhân Tông tổ chức khoa thi Nho học đầu tiên vào năm Ất Mão (1075) gọi là thi Minh kinh bác học và Nho học tam trường. Đến tháng Tám năm Bính Dần (1086), triều Lý tổ chức “thi người có văn học trong nước, sung làm quan ở Hàn lâm viện”4. Khoa thi này người đỗ đầu là Mạc Hiển Tích, quê xã Lũng Động, huyện Chí Linh (nay thuộc xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương).
Thời Lý còn tiếp tục tổ chức các khoa thi vào các năm Nhâm Thìn (1152), năm Ất Dậu (1165), năm Ất Tỵ (1185), năm Quý Sửu (1193). Khoa thi năm
1. Phan Thúc Trực: Trần Lê ngoại truyện, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.1068, tờ 5a-5b, in trong Phạm Sư Mạnh cuộc đời và thơ văn, Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2018, tr.215.
2, 3. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.36, 108.
4. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.281.
Ất Tỵ (1185) lấy đỗ 30 người, trong đó có Bùi Quốc Khái, người làng Bình Lãng (huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương) đỗ đầu.
Trong suốt 216 năm tồn tại của triều Lý, chính sử chỉ ghi được 7 khoa thi, lấy đỗ 46 người1. Thi cử dưới triều Lý chưa được tổ chức đều đặn, học vị cho người đỗ đạt cũng chưa được quy định rõ ràng. Tuy vậy, bắt đầu từ đây có một tầng lớp nho sĩ được đào tạo theo ý thức hệ Nho giáo gia nhập vào bộ máy chính quyền trung ương, như trường hợp Trạng nguyên Mạc Hiển Tích...
Với bốn người đỗ đại khoa (Mạc Hiển Tích, Đỗ Thế Diên, Bùi Quốc Khái và Phạm Tử Hư), trong đó có ba trạng nguyên, các học trò của lộ Hồng/Hải Dương thời Lý đã thể hiện sự cố gắng phấn đấu để đạt những ngôi vị cao trong khoa cử Nho học nước ta thời quân chủ.
- Khoa cử thời Trần:
Khoa cử thời Trần có bước phát triển hơn hẳn triều Lý với việc tổ chức được 19 khoa thi, chủ yếu là các kỳ thi Thái học sinh (tức thi tiến sĩ, 12 khoa), thi Lại viên (4 khoa), thi Tam giáo (2 khoa) và một kỳ thi Đình lấy đỗ các tiến sĩ (không xếp vào khoa thi Thái học sinh).
Khoa thi lần đầu tiên được nhà Trần tổ chức năm Đinh Mùi (1227) là khoa thi Tam giáo. Phan Huy Chú trong sách Lịch triều hiến chương loại chí cho biết về khoa thi này: “đời Lý, đời Trần, đều chuộng Phật giáo và Đạo giáo, cho nên buổi ấy chọn người muốn được thông cả hai giáo ấy, dù là chính đạo hay dị đoan, đều tôn chuộng không phân biệt, mà học trò đi thi khoa ấy (khoa Tam giáo) nếu không học rộng biết nhiều thì cũng không thể đỗ được”2.
Thái học sinh là kỳ thi quan trọng và được tổ chức nhiều nhất dưới triều Trần. Khoa thi Thái học sinh đầu tiên được tổ chức vào năm Nhâm Thìn (1232), bắt đầu đặt danh hiệu cho những người đỗ cao chia làm tam giáp theo thứ bậc khác nhau là Nhất giáp, Nhị giáp, Tam giáp3. Khoa này có Trương Hanh, quê huyện Trường Tân, nay là huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, đỗ Đệ nhất giáp.
Tháng Hai năm Đinh Mùi niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình thứ 16 (1247) tổ chức thi Đại tỷ. Bắt đầu từ khoa thi này, đặt ngôi vị Tam khôi cho 3 người
1. Ba khoa thi ghi tên người đỗ: 1075, 1086, 1185; 4 khoa không ghi tên người đỗ, chỉ ghi khoa thi: 1152, 1165, 1193, 1195.
2, 3. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 2 (Khoa mục chí), Sđd, tr.9, 8.
đỗ cao nhất: người đỗ đầu là Trạng nguyên, đỗ thứ hai là Bảng nhãn, đỗ thứ ba là Thám hoa1.
Cũng năm Đinh Mùi (1247), vào tháng Tám, nhà Trần tổ chức khoa thi Tam giáo thứ hai. Khoa thi này lấy Ngô Tần đỗ Giáp khoa2 (đỗ đầu). Ông là người Trà Lộ (cũng gọi là Trà Hương, nay thuộc huyện Nam Sách). Vũ Vị Phủ đỗ Ất khoa (thứ hai), người Châu Hồng (thuộc xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương), ông là người đỗ đại khoa đầu tiên của làng Mộ Trạch nổi tiếng xứ Hồng lộ.
Khoa thi năm Bính Thìn (1256), để khuyến khích các sĩ tử vùng xa kinh đô, nhà Trần đặt ra lệ lấy đỗ hai Trạng nguyên: Kinh Trạng nguyên và Trại Trạng nguyên3. Khoa thi này lấy đỗ 43 người. Trần Quốc Lặc quê ở Thanh Lâm (nay thuộc xã Minh Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương), đỗ Kinh Trạng nguyên.
Khoa thi năm Bính Dần (1266), khoa thi thứ 5, lấy đỗ 47 người. Khoa này lấy đỗ Kinh Trạng nguyên Trần Cố quê ở xã Phạm Triền (nay thuộc thôn Phạm Lý, xã Ngô Quyền, huyện Thanh Miện); Trại Trạng nguyên Bạch Liêu4 quê ở huyện Đông Thành, Nghệ An, trú quán tại xã Nghĩa Lư, huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã An Lâm, huyện Nam Sách) và Thám hoa lang Hạ Nghi quê ở xã Hạ Lạc, huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Đồng Lạc, huyện Nam Sách).
Khoa thi Thái học sinh năm Giáp Thìn (1304) là khoa thi đặc biệt nhất khi nhà vua xuống chiếu cho học trò được chuẩn bị học tập trước 4 năm.
1. Xem Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 2 (Khoa mục chí), Sđd, tr.8.
2. Xem Phan Huy Chú: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.1, tr.471.
3. Vùng tứ trấn ở miền Bắc gọi là Kinh, từ Thanh Hóa, Nghệ An trở vào gọi là Trại.
Việc phân chia Kinh/Trại Trạng nguyên áp dụng cho hai khoa thi năm 1256 và năm 1266. Đến năm 1275, nhà Trần lại bỏ quy định Kinh/Trại Trạng nguyên và trở lại lấy Tam khôi.
4. Về quê quán của Trạng nguyên Bạch Liêu tài liệu chưa có sự thống nhất. Một số tài liệu như Đại Việt lịch triều đăng khoa lục, Sài Gòn (1963), tr.6; Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075 - 1919), Sđd, tr.42 cho rằng: Đời sau gia đình Trạng nguyên Bạch Liêu chuyển đến làng Nghĩa Lư, huyện Thanh Lâm, nay thuộc xã An Lâm, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Sách Hải Dương địa dư, in trong Địa phương chí tỉnh Hải Dương qua tư liệu Hán Nôm, Sđd, tr.358 ghi: Bạch Liêu người xã Nghĩa Lư, huyện Thanh Lâm, đỗ Trạng nguyên đời Thiệu Long triều Trần, làm quan đến chức Thượng tướng, sau này phong Phúc thần, do xã nhà thờ cúng. Vấn đề này còn phải tiếp tục được nghiên cứu.
Đây là khoa thi tập trung sĩ tử đông nhất từ trước đó, lấy đỗ 44 người. Khoa thi này, Mạc Đĩnh Chi, quê ở làng Lũng Động, huyện Chí Linh (nay là xã Nam Tân, huyện Nam Sách) đỗ Trạng nguyên. Ông thuộc dòng dõi Trạng nguyên Mạc Hiển Tích, người đỗ đầu khoa Bính Dần (1086) và là cụ tổ bảy đời của Mạc Đăng Dung.
Ngoài các khoa thi trên, nhà Trần còn tổ chức được một kỳ thi Đình lấy đỗ các tiến sĩ (không xếp vào khoa thi Thái học sinh) vào năm Giáp Dần, niên hiệu Long Khánh thứ 2 (1374), đời Trần Duệ Tông. Khoa thi này, Lê Hiến Phủ đỗ Bảng nhãn. Ông là người xã Trí An, huyện Đông Triều, nay thuộc phường Phạm Thái, thị xã Kinh Môn, Hải Dương1. Cũng theo lệ như khoa thi năm Giáp Thìn (1304), 3 người đỗ đầu khoa này (1374) cũng được nhận ân điển đi thăm phố phường ở kinh đô trong ba ngày.
Trong lịch sử khoa cử dưới thời quân chủ, khoa thi Hương đầu tiên được tổ chức vào thời Trần, năm Quý Dậu (1393), niên hiệu Quang Thái thứ 6, đời Trần Thuận Tông2. Hiện nay ghi chép về những người đỗ Hương cống thời Trần ở Hải Dương mới sưu tầm được tư liệu về một người duy nhất là Lê Cảnh Tuân, quê ở làng Mộ Trạch, huyện Đường An (nay là làng Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang)3.
Hầu hết các vị đỗ đại khoa Hải Dương sau đó đều tham gia quan trường và đảm nhiệm những cương vị cao ở triều đình. “Bấy giờ, các bậc đức tốt,
1. Ngô Đức Thọ (Chủ biên): Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075 - 1919), Sđd, tr.46 có ghi: Theo Nam Định tỉnh địa dư chí, xã Thượng Lạc, huyện Nam Chân, nay là huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định có đền thờ Bảng nhãn trung thần nhà Lê là Lê Hiến Phủ.
Thần tích địa phương ghi ông quê Hải Dương. Về tiểu sử Lê Hiến Phủ, các tài liệu ghi không thống nhất. Sách Đại Việt lịch triều đăng khoa lục ghi ông quê xã Trí Tri, huyện Đông Triều, nay thuộc tỉnh Quảng Ninh.
2. Xem Cao Xuân Dục: Quốc triều hương khoa lục, Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Thị Lâm dịch, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, tr.45.
3. Xem Nguyễn Thúy Nga (Chủ biên): Khoa cử Việt Nam. Hương cống triều Lê, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2019, tr.23. Sách Toàn Việt thi lục, Hải Dương tỉnh dư địa chí ghi: ông đỗ Hương tiến năm Xương Phù đời Trần Phế Đế (trị vì 1377 - 1388); sách Đại Nam nhất thống chí, Hải Dương phong vật chí, Lược truyện các tác gia Việt Nam, ghi:
ông đỗ Thái học sinh; còn tài liệu Lê thị gia phả sự tích ký và Mộ Trạch Lê thị phả lại ghi:
ông đỗ Hương cống. Sách Tiến sĩ Nho học Hải Dương (1075 - 1919) ghi: ông đỗ Thái học sinh khoa Tân Dậu (1381), niên hiệu Xương Phù đời Trần Phế Đế (1377 - 1388). Vấn đề này chưa thống nhất, cần phải tiếp tục được nghiên cứu.
tài cao, có phong độ tiết tháo đều được đưa dùng, như Mạc Đĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh, Phạm Tông Mại”1. Từ khoa thi đầu tiên (1227) đến khoa thi cuối cùng (1396), nhà Trần tổ chức 19 khoa thi, lấy đỗ 52 tiến sĩ. Trong bối cảnh giáo dục khoa cử thời Lý - Trần, với 23 tiến sĩ, có thể thấy các nho sĩ Hồng lộ/Hải Dương đã luôn nỗ lực phấn đấu để giành được ngôi vị cao trong các kỳ thi Nho học.
- Những nho sĩ tiêu biểu của Hải Dương thời Lý - Trần:
Mạc Hiển Tích, người làng Lũng Động, huyện Chí Linh (nay thuộc xã Nam Tân, huyện Nam Sách), đỗ đầu khoa thi chọn người giỏi văn học năm Bính Dần, niên hiệu Quảng Hựu thứ 2 (1086). Ông được tuyển vào làm Hàn lâm học sĩ, chức quan đứng đầu Hàn lâm viện - một cơ quan của triều đình gồm nhiều người có học vấn cao, giúp việc bên cạnh nhà vua. Sau ông được thăng đến chức Thượng thư, từng được cử đi sứ sang Chiêm Thành. Ông là viễn tổ của Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (triều Trần).
Bùi Quốc Khái (1141 - 1234), người làng Bình Lãng, huyện Cẩm Giàng (nay là xã Ngọc Liên, huyện Cẩm Giàng). Sau ông chuyển tới sinh sống tại làng Trích Sài, Thăng Long (nay thuộc quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội)2.
1. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.1, tr.275.
2. Theo nghiên cứu mới nhất, Bùi Quốc Khái là người làng Bằng Liệt (Hà Nội). Ông là vị Tiến sĩ khai khoa của vùng đất Thăng Long - Hà Nội. Trong bài viết “Bùi Quốc Khái - vị khai khoa của Thăng Long - Hà Nội”, tác giả Bùi Xuân Đính căn cứ vào tấm bia Thanh Bằng thịnh sự bia (bia nói về sự thịnh vượng của làng Bằng Liệt, được dựng ngày 18 tháng Hai năm Giáp Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 45 (1784), tại Bằng Liệt, xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì, nay thuộc quận Hoàng Mai) đã giải thích rằng: “Theo chúng tôi, tấm bia ở Văn chỉ làng Bằng Liệt được lập trước hai cuốn sách Lịch triều hiến chương loại chí và Khâm định Việt sử thông giám cương mục khá lâu đã khẳng định Bùi Quốc Khái là người làng Bằng Liệt, đã được Hội Tư văn của làng thờ tại Văn chỉ cùng các bậc tiên hiền từ lâu. Như vậy, có nhiều khả năng ông quê gốc ở đây nhưng về sau chuyển xuống làng Bình Lãng, khi đi thi làm hồ sơ tại Bình Lãng. Dù sao thì với nội dung trên tấm bia, chúng ta có thể tin rằng, Bùi Quốc Khái là người làng Bằng Liệt, đỗ đại khoa năm Ất Tỵ, niên hiệu Trinh Phù đời Lý Cao Tông (1185). Như vậy, ông là vị Tiến sĩ khai khoa của Thăng Long - Hà Nội, được làng Bằng Liệt thờ tại Văn chỉ” (Bùi Xuân Đính: “Bùi Quốc Khái - vị khai khoa của Thăng Long - Hà Nội”, đăng trên www.
hobuivietnam.com). Tuy nhiên, trong các sách sử, khi nói về nhân vật Bùi Quốc Khái, đều viết rằng, ông quê ở làng Bình Lãng, huyện Cẩm Giàng (nay là thôn Thu Lãng, xã Ngọc Liên, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương). Vấn đề này chưa có sự thống nhất, cần được nghiên cứu thêm.