THỜI HỌ KHÚC, NGÔ, ĐINH, TIỀN LÊ
III- DẤU ẤN VĂN HÓA Ở HẢI DƯƠNG TRONG THẾ KỶ X
Về văn hóa, nhân dân Hải Dương cũng như nhân dân cả nước nói chung, có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với nước, tín ngưỡng đa thần, phồn thực đã có từ lâu đời.
Đối với người Việt, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên gần như trở thành một thứ tôn giáo, không gia đình nào không có bàn thờ tổ tiên trong nhà. Việc cúng giỗ tổ tiên có những quy định mang tính truyền thống, đời nọ nối tiếp đời kia.
Việc cúng, thắp hương tổ tiên ngoài ngày giỗ, thường được thực hiện vào các dịp lễ tết như Tết Nguyên đán, Tết Thanh minh, Tết Đoan ngọ (mồng 5 tháng Năm), Tết Trung nguyên (rằm tháng Bảy), Tết Trung thu (rằm tháng Tám), Tết ông Công ông Táo (23 tháng Chạp), ngày sóc, ngày vọng hằng tháng... Ở vùng Cẩm Giàng, Bình Giang có tổ chức Tết Thanh minh và cũng là ngày giỗ họ vào mồng 3 tháng Ba hằng năm...
Bên cạnh đó, Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo có mặt ở Việt Nam từ đầu Công nguyên, đã khá phát triển vào thế kỷ X. Thời điểm này, đội ngũ trí thức, tăng lữ là tầng lớp ưu tú của xã hội và là chỗ dựa tinh thần của nhà nước. Trong đội ngũ quan lại ở triều đình có các chức quan coi quản Phật giáo, Đạo giáo.
1. Xem Đỗ Văn Ninh: Thương cảng Vân Đồn, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2004, tr.150-151.
Tuy Nho giáo đã được du nhập vào Việt Nam từ đầu Công nguyên, nhưng khoa cử chưa xuất hiện. Thế kỷ X, việc truyền dạy chữ Nho thường diễn ra trong các nhà chùa do các bậc cao tăng đảm nhiệm, dùng chữ Hán để chuyển tải Phật giáo, Đạo giáo. Có giáo dục chữ Nho nhưng chưa có khoa cử, có học chữ Nho nhưng không dung nạp, tiếp nhận tư tưởng Nho giáo mà tìm đến Phật giáo, Đạo giáo là thực chất bộ mặt đời sống văn hóa tinh thần của cư dân Đại Cồ Việt thế kỷ X. Có thể nói, đây là giai đoạn “tam giáo đồng nguyên”, cùng phát triển.
Nhà sư Ngô Chân Lưu (tức Khuông Việt, sinh năm Quý Tỵ, 933, mất năm Tân Hợi, 1011) từng tu ở chùa Phật Đà, làng Cát Lỵ, huyện Thường Lạc1, (nay thuộc huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội), lúc nhỏ ông theo học Thiền với nhà sư Văn Phong ở chùa Khai Quốc, về sau ông tiếp tục mở rộng Phật học tại chùa Khai Quốc. Ông chính là người cho xây dựng chùa Động Ngọ (còn gọi là chùa Cập Nhất) thuộc thôn Cập Nhất, xã Tiền Tiến, huyện Thanh Hà. Theo dòng chữ khắc trên nóc chùa “Thái Bình nhị niên thừa Khuông Việt chỉ truyền hạ chiếu tạo tự. Đại Chính nguyên niên sắc tỷ kỳ ly tự Đào Chu trụ trì”, thì chùa do nhà sư Khuông Việt khởi dựng vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Năm Đại Chính nguyên niên (1530), sắc cho nhà sư Đào Chu trụ trì và trùng tu lại nhà chùa (nhà Tam bảo hiện nay).
Việc xác định được niên đại xây dựng ngôi chùa Động Ngọ rất quan trọng, nó minh chứng cho sự tồn tại và phát triển của Phật giáo ở Hải Dương vào thế kỷ X. Hiện nay, chùa Động Ngọ nằm trên trục đường 190 - từ thành phố Hải Dương đi thị trấn Thanh Hà, cách thành phố Hải Dương về phía đông khoảng 7km.
Thần tích tại đình Bằng Trai do Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh Nguyễn Hiền phụng sao theo bản chính của Bộ Lễ vào năm Vĩnh Hựu thứ 6 (1740) cho biết: Vào thế kỷ X, tại vùng đất thuộc xã Hạ Phi, huyện Trường Tân, phủ Hạ Hồng, đạo Hải Dương có một người họ Trình, tên Hiển lấy vợ là người bản ấp họ Ngô, tên là Quế, tổ ba đời đều rất giỏi văn chương.
1. Có ý kiến cho rằng, huyện Thường Lạc nay thuộc huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Ở huyện này có di tích Am Các, được coi là một trong những nơi tu hành của Ngô Chân Lưu. Tuy nhiên, gần đây các nhà khảo cổ học đã tiến hành khai quật ở di tích Am Các và cho biết di vật sớm nhất có từ thời Trần.
Gặp buổi loạn lạc 12 sứ quân, vợ chồng lánh nạn về trang Bằng Trai, xã My Thự, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng hành lễ trai giới bái Phật và xin bản xã được trông nom chùa. Trong trang có nhà họ Nguyễn tên Đức tuy tuổi đã cao nhưng mãi chưa có con, Hiển cho hành lễ cúng Phật. Ít lâu sau, vợ của hai nhà Trình, Nguyễn đều có mang và đến ngày mùng 2 tháng Giêng năm Canh Tý (940) cùng sinh con.
Thần tích làng Rồng (nay thuộc thôn Cao Duệ, xã Nhật Tân, huyện Gia Lộc), vào thế kỷ X đã có chùa Liên Hoa. Khi ấy, có người tên là Đào Ngọc Hoàn quê ở châu Ái, đi chu du thiên hạ, đến trang Cao Duệ, dừng chân nghỉ lại, được người trong trang là Đỗ Thành gả con gái cho. Vừa lúc, nhà sư trụ trì chùa Liên Hoa viên tịch chưa có người thay thế. Mọi người trong trang ngỏ ý muốn mời Đào công đến ở và trông nom chùa1.
Thời Tiền Lê, ngôi chùa Sách Giang gắn với sự kiện Thiền sư Pháp Thuận đón tiếp sứ nhà Tống là Lý Giác năm 987, “khi Giác đến chùa Sách Giang, vua sai pháp sư tên là Thuận giả làm người coi sông ra đón”. Sách Giang tự là tên chùa, gọi theo tên sông - sông Sách, theo Phan Huy Chú, đây là con sông chảy qua Nam Sách. Có lẽ bấy giờ, cũng như về thời Trần sau này, sông Sách là một đoạn sông Thương2. Một ngôi chùa khác cũng được dựng vào thời Tiền Lê, đó là chùa Kỳ Đà (nay thuộc khu dân cư Vũ Thượng, phường Ái Quốc, thành phố Hải Dương) - là bản trang sinh sống của gia đình họ Vũ (gồm cha Vũ Thành, mẹ Hoàng Thị Mậu và ba con trai Vũ Hoàng, Vũ Huệ, Vũ Động), có công giúp vua Lê Đại Hành đánh thắng quân Tống xâm lược3. Những dấu tích trên cho thấy, Phật giáo ở Nam Sách giang đã có sự xuất hiện của cả hai dòng chính, nếu “Phật giáo vùng Thanh Hà, Kim Thành theo thiền phái Vô Ngôn Thông (sơn môn Kiến Sơ), chịu ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa” thì “Phật giáo các huyện Nam Sách, Cẩm Giàng giáp các huyện Lương Tài, Gia Bình phía nam tỉnh Bắc Ninh theo thiền phái Tỳ ni đa lưu chi (sơn môn Dâu), chịu ảnh hưởng của Phật giáo Ấn Độ”4.
1. Xem Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hải Dương: Hải Dương: Di tích và danh thắng, Sđd, t.II, tr.356.
2. Xem Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.224.
3. Xem Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hải Dương: Hải Dương: Di tích và danh thắng, Sđd, t.II.
4. Nguyễn Đại Đồng và Thích Quảng Pháp: Phật giáo Hải Dương - Những chặng đường, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2015, tr.15.
Qua thần tích và thực tế cho thấy, Phật giáo đã có ảnh hưởng phần nào vào đời sống của người dân, dần dần tạo thành lề lối, thói quen.