TỪ THỜI HỒ ĐẾN THỜI LÊ SƠ
II- HẢI DƯƠNG DƯỚI ÁCH ĐÔ HỘ CỦA NHÀ MINH (1407 - 1427)
2. Sự nô dịch của nhà Minh trên các lĩnh vực chính trị, xã hội, kinh tế
Tháng Năm năm Đinh Hợi (1407), nhà Minh chính thức áp đặt cai trị Đại Việt, chúng đã thu được “48 phủ, châu, 168 huyện, 3.129.500 hộ, 112 con voi, 420 con ngựa, 35.750 con trâu bò, 8.865 chiếc thuyền”1. Thống kê từ Tu tri sách, năm Vĩnh Lạc thứ 15 (1417), dân số tổng cộng cả nước có 162.558 hộ, 450.288 nhân khẩu, trong đó phủ Tân An có 20.647 hộ, 74.226 nhân khẩu (là phủ có số hộ và nhân khẩu đông nhất) và phủ Lạng Giang có 8.136 hộ, 17.087 nhân khẩu2.
1. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.219. Sách Minh sử cho biết thêm: Tháng Sáu năm Vĩnh Lạc thứ 6 (1408), Trương Phụ đem quân về kinh, dâng địa đồ Giao Chỉ, đông tây dài 1.760 dặm, nam bắc dài 2.800 dặm, vỗ yên nhân dân hơn 312 người, được hơn 2.087.500 người Man, hơn 235.900 voi, ngựa, trâu bò, 1.360 vạn thạch thóc gạo, 8.670 chiếc thuyền và 2.539.800 cái binh khí.
2. Xem Cao Hùng Trưng - Khuyết danh: An Nam chí nguyên, Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2017, tr.212.
Bắt đầu từ đây, nhà Minh đã thực hiện chính sách vơ vét, bóc lột và đồng hóa nhân dân ta. Về số cống phú mà các địa phương nước ta phải chiểu nộp cho nhà Minh rất nhiều, trong đó phủ Tân An cống phú nhiều nhất.
Bảng 3.1: Số lượng cống phú của phủ Tân An chiểu nộp cho nhà Minh
- Da chim trả 300 cái
- Quạt giấy 2.000 bó
- Tơ 1 cân
- Ruộng, đất, hồ ao của quan và dân 2.914 khoảnh 76 mẫu 5 ly
- Thóc gạo chiêm, mùa 9.844 thạch 2 đấu 1 cáp 5 thước
- Thuế thương mại phủ Tân An và các thuộc huyện: tiền và bảo sao
6.102 quan 504 đồng
+ Tiền đồng 753 quan 218 đồng
+ Bảo sao 5.349 quan 286 đồng
- Thuế đánh cá: tiền và bảo sao 608 quan 422 đồng
+ Tiền đồng 304 quan 462 đồng
+ Bảo sao 303 quan 960 đồng
- Thuế lò gốm, lò đúc, tiền đồng 40 quan 200 đồng
- Tô thuế nhà quan (công): tiền và bảo sao 33 quan 860 đồng
+ Tiền đồng 7 quan 200 đồng
+ Bảo sao 26 quan 660 đồng
- Thuế muối 26.775 cân
Nguồn: Cao Hùng Trưng - Khuyết danh: An Nam chí nguyên, Sđd.
Đặc biệt, để thực hiện chính sách quản lý và bóc lột, nhà Minh cho thiết lập một hệ thống các cục, sở, ty, tuần... trên đất Hải Dương ngày nay như:
- Đặt Thuế khóa cục (cục thu thuế) ở 4 phủ (trong đó có phủ Lạng Giang), 8 châu (trong đó có châu Nam Sách) và 20 huyện (Thanh Lâm, Chí Linh, Bình Hà, Cổ Dũng, Thanh An... lại đặt 5 thuế khóa cục ở Tư Ngọc thuộc huyện Đường An, Giáp Sơn thuộc huyện Giáp Sơn). Sau đó, nhà Minh lại cho đổi thuế khóa cục và Bình Nam giang khẩu Tuần kiểm ty của huyện Thanh Lâm vào châu Nam Sách; Kim Lũ thuế khóa cục của huyện Đường Hào thuộc vào châu Thượng Hồng...; Thiên Liêu Giang đồn sơn Tuần kiểm ty của huyện Đông Triều thuộc vào châu Đông Triều; Đồng An hải khẩu Tuần kiểm tư của huyện Đồng An thuộc vào châu Tĩnh An; thuế khóa cục và Ba Liễu xã
Tuần kiểm ty của huyện Trường Tân thuộc vào châu Hạ Hồng. Năm Ất Mùi (1415), nhà Minh cho bỏ thuế khóa cục ở 8 châu (trong đó có châu Nam Sách), 19 huyện (trong đó có huyện Bình Hà) và Ma Lãng châu Đa Cẩm, Tư Vương huyện Đường An...
- Đặt 21 Hà bạc sở (đánh thuế cá) tại xã Kinh Thầy, huyện Đường An;
Phấn Trì, huyện Cổ Dũng; Đông Mỹ, huyện Bình Hà; Tứ Kỳ, huyện Tứ Kỳ.
Sau đó lại bỏ các sở trên và cả sở Cổ Trai, huyện An Lão.
- Đặt 67 Tuần kiểm ngư tại cửa sông Bình Nan, huyện Thanh Lâm; bến Cổ Pháp, huyện Chí Linh; cửa bể Đa Ngư, cửa Đôi Hải, cửa An Giang, huyện Bình Hà; cửa sông A Lao, huyện Đa Cẩm...; núi Đồn ở bờ sông Yên Dao, châu Đông Triều; cửa bể Phù Đề, huyện Cổ Phí; cửa bể An Lão, cửa bể Đa Hồn, huyện An Lão; cửa bể Đồng An, huyện Đồng An; cửa bể huyện Chi Phong; xã Ba Liễu, huyện Trường Tân; đội Vực Cá Lâu, đội Du Giang, đội Trúc Thủy, huyện Tứ Kỳ... Năm 1417, nhà Minh cho đặt thêm tuần kiểm ngư ở các châu huyện: Cổ Liễu, Giang Hạ, Mộ Ông, châu Đông Triều, xã An Nhiếp, huyện Chi Phong, Đãn Giang, châu Tứ Kỳ, Mã Lạo giang, huyện Bình Hà, Kinh Hạ, huyện Giáp Sơn, sông Đạm Thủy, xã Tân An, huyện Đông Triều, xã Trúc Đồng, huyện Thủy Đường.
- Đặt Thường trừ thương thuộc phủ Bắc Giang, Thường tích thương thuộc phủ Tân An, Thường ích thương thuộc phủ Lạng Giang (mỗi nơi đặt hai viên đại sứ, một viên phó sứ); đặt bốn trường Diêm khóa ty ở An Lão, An Hòa, Chi Phong và Đồng An thuộc Giao Chỉ Diêm khóa đề cử ty...
- Đặt ty Nho học ở phủ Tân An, châu Thượng Hồng, Hạ Hồng, Nam Sách, Đông Triều và các huyện Thanh Viễn, Phượng Sơn, Bình Hà, Đường An, Thủy Đường, Cổ Phí, An Lão, Đồng Lợi, Thanh Miện, Chí Linh; đặt ty Y học ở phủ Tân An, châu Thượng Hồng, Hạ Hồng, Đông Triều và huyện Thanh Viễn, Bình Hà, Đường An, Đa Cẩm, An Lão, Thủy Đường, Thanh Miện; đặt Diêm khóa đề cử ty ở châu Nam Sách, ty Thuế muối ở An Lão.
- Đặt các trạm vận chuyển trên sông ở xã Tân An, huyện Tân An, xã An Hà, huyện An Hà, xã Đông Triều, châu Đông Triều, trạm Bình Than và sở vận chuyển Bình Than thuộc huyện Chí Linh, đặt sở Thủ ngự thiên hộ ở Tân An;
đặt ty Thị bạc đề cử và Trừu phân tràng (nơi đánh thuế buôn) ở Vân Đồn...
Bên cạnh những chính sách vơ vét, bóc lột tài nguyên, của cải và sức lao động của nhân dân ta, giặc Minh còn thực hiện nhiều chính sách đồng hóa mạnh mẽ, nhất là các thủ đoạn “sát phu, hiếp phụ”, phá bỏ đền, chùa, bia ký, sắc phong, văn tự... Tại làng An Ninh (xã An Bình, huyện Nam Sách), chúng thu sách thuốc Linh đơn thánh dược của Tổ sư Phạm Thị Toàn (thờ ở chùa Vĩnh Khánh) và thanh kiếm đánh giặc Mông - Nguyên của tướng quân Nguyễn Huy Tĩnh (thờ ở nghè). Chúng còn cắt tai, mổ bụng, moi gan, rán mỡ ông Hoàng Đình Vĩnh (một nhà nho tiết tháo) vào ngày 29 tháng Chín năm Kỷ Sửu (1409)...
Năm Tân Sửu (1421), Tổng binh Lý Bân vạch ra kế hoạch: “Giao Chỉ mới phụ, đất bỏ hoang nhiều, việc vận lương khó khăn, vậy xin theo lệ các vệ sở thuộc các đô ty chia quân làm đồn điền để cung lương hướng”1. Nhận xét chung về tình hình đất nước trong thời gian này, sử gia Ngô Sĩ Liên viết: “... giặc Minh bạo tàn, hòng thay bờ cõi. Chúng giả nhân, diệt nước, giết hại, làm càn. Dân nước Việt ta, gan óc lầy đất... Làng mạc hoang phế, xã tắc thành gò cho thỏ chui, cho hươu chạy, thành bãi hoang cho chim đỗ, thành rừng rậm cho hổ báo náu mình”2. Hải Dương thời kỳ này không nằm ngoài bối cảnh chung lầm than kéo dài trong 20 năm của cả dân tộc. Điều đó được phản ánh qua những câu thơ của Nguyễn Húc3. Nguyễn Húc tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ rất sớm, sau khi chiến thắng giặc Minh, trở về quê hương, trước cảnh điêu tàn của làng xóm, ông viết bài Thương loạn, trong đó có những câu phản ánh tình trạng ruộng đồng của Hải Dương trong thời gian này:
“Quay xe trở lại dạ thương đau Giặc phá, đồng hoang, nội cỏ rầu Binh lửa mười năm tàn sức sống
Mơ màng ngàn dặm cảnh thương châu”4.
1. Hoàng Minh thực lục. Dẫn theo Trương Hữu Quýnh: Chế độ ruộng đất và một số vấn đề lịch sử Việt Nam, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2009, tr.172.
2. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.289.
3. Nguyễn Húc (1379 - 1469), còn có tên là Nguyễn Đình Húc, tự Di Tân, người làng Kệ Sơn, xã Hiệp Sơn (nay là thôn Kệ Sơn, xã Hoành Sơn, thị xã Kinh Môn, Hải Dương), tham gia khởi nghĩa Lam Sơn và làm quan dưới thời Lê sơ.
4. Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, Tập II - Văn học thế kỷ X - thế kỷ XVII, Nxb. Văn học, 1976, tr.308. Dẫn theo Trương Hữu Quýnh: Chế độ ruộng đất và một số vấn đề lịch sử Việt Nam, Sđd, tr.175.
Những câu thơ chất chứa nỗi niềm xót xa của Nguyễn Húc trước tình cảnh quê hương, đất nước bị giặc cướp nước giày xéo. Qua đó cho thấy tội ác của giặc Minh đối với vùng đất Hải Dương nói riêng và đất nước nói chung trong vòng 20 năm đô hộ, đồng thời cho thấy hiện thực về tình hình kinh tế nông nghiệp Hải Dương nói chung và tình trạng ruộng đất ở Hải Dương thời kỳ thuộc Minh.