Văn học, nghệ thuật và khoa học kỹ thuật

Một phần của tài liệu LICH SU HAI DUONG tap 2 (Trang 134 - 148)

III- VĂN HÓA, GIÁO DỤC VÀ KHOA HỌC KỸ THUẬT

3. Văn học, nghệ thuật và khoa học kỹ thuật

Văn học thành văn ở Hải Dương thời Lý chưa có nhiều dấu ấn rõ rệt trong dòng chảy chung của văn học cả nước. Sang tới thời Trần, văn học viết ở Hải Dương có diện mạo khởi sắc hơn, với nhiều tác giả và tác phẩm tiêu biểu.

Lực lượng sáng tác chủ yếu của văn học thời Trần là các quan lại, tăng lữ và nho sĩ. Tác gia văn học Hải Dương thời Trần trước hết là những người sinh ra và lớn lên trên vùng đất này, như Mạc Đĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Phi Khanh... Có những tác gia quê gốc tuy không ở Hải Dương, nhưng họ đã làm nên sự nghiệp và để lại nhiều dấu ấn trên mảnh đất này, như Lý Đạo Tái (Thiền sư Huyền Quang), Pháp Loa, Chu Văn An... Đặc biệt, trong dòng văn học Hải Dương còn có những tác phẩm của vua Trần Nhân Tông và một số vương hầu, quý tộc nhà Trần. Họ là những nhà chính trị, quân sự nhưng

1. Xem Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương: Địa chí Hải Dương, Sđd, t.II, tr.503.

cũng là nhà thơ, nhà văn nổi tiếng, có nhiều gắn bó với Xứ Đông như Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nguyên Đán...

Văn học viết thời Trần gồm văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm.

- Văn học chữ Hán có các thể chính là phú, biểu, thơ.

Thể loại phú, vua Trần Nhân Tông có bài phú Cư trần lạc đạo; Mạc Đĩnh Chi có bài phú nổi tiếng Ngọc tỉnh liên thể hiện được sự thanh cao của nho sĩ đương thời. Phạm Tông Mại có bài Thiên thu giám phú (Lời răn giới nhân ngày Tết thiên thu). Tông Mại cũng là người nổi tiếng về thơ văn. Thơ ông được người đương thời khen là thanh thoát, tao nhã và toát lên một tinh thần lạc quan về cuộc đời.

Thể loại biểu có các bài biểu của Mạc Đĩnh Chi: Biểu tạ ơn về việc ban cho mũ sam; biểu tạ tội của Đoàn Nhữ Hài1 có tên là Nghĩ Anh Tông Hoàng đế tạ Thượng hoàng biểu, do ông viết thay vua Trần Anh Tông tạ tội với Thượng hoàng Trần Nhân Tông. Nội dung bài biểu này được tìm thấy trong thần tích ở miếu thờ Đoàn Nhữ Hài tại quê ông (xã Gia Tân, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương), đã được dịch và in trong sách Thơ văn Lý - Trần.

Thể loại thơ chiếm ưu thế trong những sáng tác văn học viết Hải Dương thời Trần. Các trí thức Nho học với những tên tuổi tiêu biểu như Mạc Đĩnh Chi, Chu Văn An, Phạm Sư Mạnh, Phạm Tông Mại, Phạm Tông Ngộ... có nhiều trước tác thúc đẩy sự phát triển của văn học thời Trần. Họ đã gửi gắm nhiều nỗi niềm tâm sự, tình cảm với cuộc đời, với quê hương vào thơ ca. Mạc Đĩnh Chi để lại bốn bài thơ chữ Hán, một bài minh đề quạt có tên: Phiến minh. Bài minh này nằm trong chùm thơ văn có tính chất giai thoại về chuyện ứng đối của Mạc Đĩnh Chi trong chuyến đi sứ năm Mậu Thân (1308)2.

Nhà nho - thầy giáo Chu Văn An có tập thơ Tiều Ẩn thi tập với “lời thơ rất trong sáng u nhàn” như nhận xét của Phan Huy Chú3. Từ khi đến vùng núi Phượng Hoàng, xã Kiệt Đặc (nay thuộc phường Văn An, thành phố Chí Linh) dựng nhà dạy học, tìm cây thuốc chữa bệnh, ông làm thơ và vịnh cảnh tự vui.

Ông đặt cho mình một tên mới là Tiều Ẩn (người tiều phu đi ở ẩn). Thơ ông

1. Xem Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Khương: Văn học Việt Nam thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1978, tr.118.

2. Xem Thơ văn Lý - Trần, tập 2, quyển thượng, Sđd, tr.864.

3. Xem Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.2, tr.424.

không chỉ tâm tình về cuộc đời, mà còn là những cảm nhận về thiên nhiên và con người Xứ Đông, như bài thơ Linh Sơn tạp hứng (Tạp hứng ở núi Linh Sơn/

tức núi Chí Linh). Phần lớn các tác phẩm của Chu Văn An hiện đã thất lạc, đến nay mới chỉ tìm được 12 bài thơ in trong Toàn Việt thi lục.

Phạm Sư Mạnh - người trò giỏi của Chu Văn An, là nhà thơ nổi tiếng đất Hồng lộ thời Trần. Ngoài khả năng quân sự và ngoại giao, Phạm Sư Mạnh là người có tài năng văn chương. Ông sáng tác nhiều thơ văn ca ngợi cảnh đẹp non sông đất nước, trong đó có những bài viết về quê hương Kinh Môn. Tập thơ Hiệp Thạch tập của ông nổi tiếng thời đó, được nhà sử học Phan Huy Chú khen ngợi: “tình thơ cao siêu, hào phóng, là một danh gia ở cuối đời Trần”. Tác phẩm thơ của Phạm Sư Mạnh, ngoài tập Hiệp Thạch tập, Đăng Thạch môn lưu đề, còn 44 bài thơ chữ Hán trong Toàn Việt thi lục.

Nguyễn Phi Khanh, hiệu Nhị Khê, quê gốc ở làng Chi Ngãi, huyện Phượng Nhãn (nay là phường Cộng Hòa, thành phố Chí Linh), sau rời về làng Ngọc Ổi, huyện Thượng Phúc (nay là làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội). Ông là thân phụ của Nguyễn Trãi. Nguyễn Phi Khanh có hai tập thơ Nhị Khê thi tập (đã thất lạc), Nguyễn Phi Khanh thi văn, gồm các bài thơ và hai bài văn của ông, in trong bộ Ức Trai thi tập.

Hai anh em Phạm Tông Ngộ, Phạm Tông Mại cũng để lại cho văn học Hải Dương thời Trần những di sản quý giá. Phạm Tông Ngộ là một ngòi bút tả cảnh rất trữ tình và tinh tế. Hiện ông còn 8 bài thơ trong Việt âm thi tậpToàn Việt thi lục. Phạm Tông Mại còn có 5 bài thơ và 1 bài phú.

Thơ của đội ngũ thiền sư cũng góp thêm sự phong phú cho thi đàn văn học Hải Dương. Các thiền sư đã để lại một di sản văn học Phật giáo có giá trị, phản ánh tư tưởng Phật học đặc sắc kết hợp với tinh thần dân tộc thời kỳ này. Sư Pháp Loa (Đồng Kiên Cương) có tập thơ Đoạn sách lục và 3 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục. Thiền sư Huyền Quang (Lý Đạo Tái) là một thi sĩ có tiếng đời Trần. Ông có tập thơ Ngọc tiên tập và 24 bài thơ thiền. Tập thơ Ngọc tiên tập hiện đã thất lạc, nay chỉ còn 24 bài thơ thiền, một bài phú Nôm, chép trong Việt âm thi tậpTrích diễm thi tập, được dịch và in trong Thơ văn Lý - Trần.

Vua Trần Nhân Tông (1258 - 1308), lên ngôi năm Kỷ Mão (1279), đến năm Quý Tỵ (1293) nhường ngôi cho con, lên làm Thượng hoàng rồi bắt đầu

lên núi Yên Tử, đi sâu nghiên cứu Phật học. Không chỉ là người sáng lập ra dòng thiền Trúc Lâm, vua Trần Nhân Tông còn là một nhà văn hóa, một nhà thơ xuất sắc thế kỷ XIII. Ông có hai tập thơ Trần Nhân Tông thi tập, 1 quyển, nay còn 20 bài và tập thơ Đại hương hải ấn thi tập, gồm có thơ và kệ do vua Trần Nhân Tông soạn sau khi lên núi Yên Tử tu hành. Vua Trần Minh Tông đã viết bài tựa cho tập này. Phần lớn các tác phẩm trên đã thất truyền, chỉ còn 31 bài thơ chữ Hán, 1 bài minh, được chép trong Việt âm thi tậpThiền tông bản hạnh.

Một số tôn thất nhà Trần như Trần Nguyên Đán - người có nhiều gắn bó với Hải Dương, cũng có nhiều sáng tác thơ đặc sắc. Mùa thu năm Ất Sửu (1385), khi thấy “vận nước sắp hết”, Trần Nguyên Đán đã xin từ quan, về sống tại Côn Sơn, lấy cảnh rừng trúc, núi đá làm vui. Ông sống an vui với cảnh núi non của Côn Sơn, hằng ngày uống rượu, làm thơ. Ông có tập thơ Băng Hồ ngọc hác tập, hiện còn 51 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục.

Thể loại văn, vua Trần Nhân Tông có các tác phẩm Trung Hưng thực lục (ghi việc đánh giặc Nguyên), Thạch thất mỵ ngữ, Thiền lâm thiết chủy ngữ lục thuộc thể loại truyện ký; Tăng già toái sự (viết sau lúc xuất gia ở núi Yên Tử, nói về ý nghĩa của đạo Phật). Thể văn chính luận có thể kể đến tác phẩm đặc biệt của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn - Hịch tướng sĩ, như một lời hiệu triệu hùng hồn, khích lệ quân dân đứng lên chiến đấu vì nghĩa lớn. Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn gắn bó với Vạn Kiếp, Hải Dương trong các cuộc kháng chiến đánh đuổi quân Mông - Nguyên. Sau kháng chiến thắng lợi, vua Trần định công, lập sinh từ cho ông tại Vạn Kiếp. Trần Quốc Tuấn sống những ngày tháng an nhiên tại Vạn Kiếp và mất tại đây vào năm Canh Tý, niên hiệu Hưng Long thứ 8 (1300). Ngoài Hịch tướng sĩ, ông đã để lại một số tác phẩm văn học có giá trị, viết theo thể loại văn chính luận như Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp tông bí truyền thư, do Trần Khánh Dư viết lời tựa.

Văn học chữ Hán còn có các bài văn bia, minh chuông, cuốn thư, câu đối ở các đình, đền, chùa, miếu, từ đường. Văn khắc trên chuông và văn bia là một di sản văn học/văn hóa vô giá. Những văn khắc này không chỉ ghi lại việc xây dựng, trùng tu các chùa tháp mà còn lưu giữ nhiều tư liệu quý liên quan đến nhân vật và sự kiện lịch sử. Sách Văn khắc Hán Nôm Việt Nam đã thống kê

được nhiều bài văn bia, minh chuông của các tác giả thời Trần1. Mạc Đĩnh Chi có soạn bài văn bia Bùi công Mộc Đạc thần đạo bi ký dựng ở mộ Bùi Mộc Đạc;

Phạm Sư Mạnh có bài văn bia Đăng Dục Thúy sơn lưu đề2 ca ngợi vẻ đẹp của núi Dục Thúy (núi Non Nước ở thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình ngày nay). Một bài văn bia rất nổi tiếng gắn với tên tuổi Phạm Sư Mạnh là văn bia Dương Nham khắc trên vách đá động Kính Chủ (thôn Dương Nham, phường Phạm Thái, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương). Bia do Phạm Sư Mạnh soạn, tạo năm Đại Trị thứ 12 (1369) có tên là Vâng chiếu đi tuyển quân năm lộ lên núi Thạch Môn làm thơ. Đây là bài thơ ngũ ngôn, ca ngợi giang sơn hùng vĩ và những chiến công lừng lẫy trong lịch sử dân tộc3. Phạm Sư Mạnh còn soạn bia Sùng Nghiêm tự Vân Lỗi sơn đại bi (chùa Sùng Nghiêm núi Vân Lỗi, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa ngày nay). Bia này được soạn năm Thiệu Khánh thứ 3 (1372). Với lời văn vừa hùng hồn, vừa hoa mỹ, phóng khoáng, bia ghi việc nhà sư trụ trì chùa Khánh Lâm đã chọn núi Vân Lỗi dựng chùa, đúc pho tượng Tam Thế cùng tượng Đại Bi toàn bằng vàng, đặt ở đỉnh non sớm chiều cầu khấn. Trên bia có bài minh 24 câu và bài thơ tứ tuyệt4.

- Văn học chữ Nôm ở Hải Dương thời Trần có nhiều tác gia và tác phẩm nổi tiếng. Đầu thời Trần, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi có bài phú Nôm Giáo tử phú. Thiền sư Huyền Quang (Lý Đạo Tái) có bài phú Nôm Vịnh Vân Yên tự (phú vịnh chùa Vân Yên). Nhà nho - thầy giáo Chu Văn An cũng có tập thơ Tiều Ẩn quốc ngữ thi tập. Đặc biệt Nguyễn Thuyên (Hàn Thuyên) là người có tài về văn thơ Nôm, “giỏi làm thơ phú quốc ngữ. Thơ phú nước ta dùng nhiều quốc ngữ, thực bắt đầu từ đấy”5. Đời vua Trần Nhân Tông (trị vì 1278 - 1293), năm Nhâm Ngọ (1282), tục truyền có cá sấu vào sông Lô (có sách chép là sông Phú Lương), vua sai Nguyễn Thuyên làm bài Văn tế cá sấu rồi cho ném xuống sông, cá sấu bỏ đi. Việc đuổi cá sấu giống việc làm của Hàn Dũ (người đời Đường, Trung Quốc), nên vua khen thưởng và cho Nguyễn Thuyên đổi theo họ Hàn. Ông là người đầu tiên dùng luật thơ Đường vào thơ Nôm tạo nên một

1. Xem Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Tập 2: Thời Trần, tập Thượng và Hạ, Viện Nghiên cứu Hán - Nôm - Trường Đại học Trung Chính Đài Loan, Hà Nội, 2002.

2, 3, 4. Xem Văn khắc Hán Nôm Việt Nam: Tuyển chọn - Lược thuật, 1992, tr.1018, 996, 543.

5. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.47.

phong trào sáng tác thơ Nôm rộng rãi. Vì lẽ đó người đời sau gọi thơ Nôm theo thể Đường luật là Hàn luật (Hàn Dũ đời Đường, Nguyễn Thuyên đổi theo họ Hàn Dũ nên gọi là Hàn Thuyên). Tác phẩm của Hàn Thuyên có Phi sa tập, trong đó có nhiều bài thơ quốc âm. Hiện bài Văn tế cá sấu của Hàn Thuyên không còn. Nguyễn Sĩ Cố cũng là người có tài làm thơ Nôm. Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: Sĩ Cố khéo khôi hài, người ta thường ví với Đông Phương Sóc. Sĩ Cố lại có tài làm thơ phú bằng quốc âm, nhiều người bắt chước1.

Di sản văn học Hải Dương thời Trần tuy không nhiều nhưng cũng góp phần làm nên diện mạo của nền văn hóa Đông A trong lịch sử. Văn học viết của Hải Dương thời Lý - Trần là một phần quan trọng trong di sản văn học/

văn hóa quý giá của dân tộc. Nhưng khi nhà Minh xâm lược đã hủy hoại kho thư tịch Đại Việt, nên các tác phẩm hiện còn lại không nhiều.

- Văn học dân gian, xuất hiện trước khi có chữ viết và cùng song song tồn tại với văn học viết. Đây là dòng văn học do nhân dân lao động sáng tạo ra trong suốt quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng, được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Văn học dân gian Hải Dương gồm hai bộ phận chính là thơ ca dân gian (tục ngữ, ca dao, hò vè, câu đối...) và văn xuôi dân gian.

Thơ ca dân gian tiêu biểu như Sấm Trạng Trình ở Vĩnh Bảo (nay thuộc thành phố Hải Phòng), truyện Nôm khuyết danh Phạm Tải, Ngọc Hoa (xã Thanh An, huyện Thanh Hà), Tô công phụng sứ; Làng vào đám (xã Nam Hồng, huyện Nam Sách), Con gái Phương Khê (xã Chi Lăng Bắc, huyện Thanh Miện)... Tục ngữ, ca dao còn được gọi là phương dao, là một phần quan trọng của thơ ca dân gian. Trong kho tàng văn hóa/văn học dân gian Hải Dương, ca dao rất phong phú. Thể thơ lục bát khiến cho ca dao rất dễ nhớ, dễ thuộc và lưu truyền mãi trong dân gian. Nội dung ca dao rất phong phú, đa dạng: ca dao ca ngợi tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu lứa đôi; ca dao nhắc đến địa danh hay về các làng quê và nghề truyền thống địa phương. Nói về tình yêu quê hương, đất nước và tình cảm lứa đôi có những câu ca dao trữ tình, sâu lắng, mà ở đó, mỗi tên làng, tên xóm đều gợi lên hình ảnh của quê hương:

1. Xem Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.1, tr.572.

An Phụ có cái bàn cờ

Trông xuống hạ giới mờ mờ, xa xa.

(Xã An Phụ thuộc thị xã Kinh Môn).

Nhắc đến sản vật hay các nghề truyền thống của địa phương trong tỉnh, là những câu ca với hình ảnh rất cụ thể, như: Cam Phù Tải, vải Thúy Lâm (các sản vật ở huyện Thanh Hà).

Làng Hóp có bán lợn con Làng Quao có đất sơn son nặn nồi.

(Hai làng này thuộc huyện Nam Sách).

Làng Châu Khê tay vàng tay bạc Cân Bái Dương giữ mực trung bình Làng Cao thợ thiếc lọc tinh

Kim hoàn La Tỉnh nghề lành càng ghê.

(Các làng nghề kim hoàn, kim khí ở các huyện Bình Giang, Cẩm Giàng, Tứ Kỳ, thành phố Chí Linh).

Ngoài ra, còn có mảng ca dao nói về chợ - một sinh hoạt cộng đồng, một nét văn hóa của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ, trong đó có Hải Dương:

Muốn ăn cơm trắng, cá ngần, Lấy chồng làng Bói cho gần chợ Hôm.

(Làng Bói, chợ Hôm là những địa danh thuộc huyện Ninh Giang, cũng là những vùng quê có chợ và hoạt động giao thương kinh tế phát triển).

Văn xuôi dân gian ở Hải Dương rất phong phú. Đó là câu chuyện thần thoại về các vị thần, là truyền thuyết về các danh nhân hay sự tích về ông tổ nghề... được truyền tụng trong dân gian từ bao đời nay. So với tục ngữ, ca dao, văn xuôi dân gian mang tính địa phương rõ hơn với những con người và địa danh gắn với mỗi địa phương trong vùng.

Trong văn hóa dân gian của mỗi dân tộc, thần thoại là tập hợp những truyện kể dân gian về các vị thần, các nhân vật nửa người nửa thần, các nhân vật anh hùng, các nhân vật sáng tạo văn hóa, thể hiện ý niệm của người cổ xưa về nguồn gốc của thế giới và của đời sống con người1.

1. Xem Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cường (Biên soạn): Từ điển văn học Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1995, tr.420.

Một phần của tài liệu LICH SU HAI DUONG tap 2 (Trang 134 - 148)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(516 trang)