Tình hình sản xuất nông nghiệp thời Lý - Trần trên đất Hải Dương

Một phần của tài liệu LICH SU HAI DUONG tap 2 (Trang 86 - 95)

Thời Lý - Trần, ruộng đất cơ bản có hai bộ phận là: sở hữu công và sở hữu tư. Ruộng đất công nhà nước quản lý bao gồm ruộng tịch điền, quốc khố

1. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.243.

và ruộng công làng xã. Ruộng đất công nhà nước chủ yếu được phong thực ấp cho các vương hầu, quý tộc, những người có công với triều đình để làm bổng lộc. Sách Lịch triều hiến chương loại chí chép: “Thời Lý các quan trong, quan ngoài đều không được cấp bổng lộc, quan trong thì bất thần vua ban, quan ngoài thì giao cho dân một miền để đặt thuộc viên thu thuế ruộng, đất, ao, hồ... đánh vào dân cày, dân chài mà thu lợi”1. Trong sách Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn viết: “Lý Thánh Tông hạ chiếu quản giáp, chủ đô và người thu thuế, phần dân đinh nộp thuế công, ngoài 10 phần được lấy riêng 1 phần làm bổng lộc, gọi là hoành đầu”2. Nhà Trần phong thái ấp cho các vương hầu, quý tộc ở các “hương”. Hương là cấp chính quyền dưới cấp lộ (lộ là cấp chính quyền địa phương cao nhất, giống như cấp tỉnh hiện nay), khi nào có lệnh của triều đình thì mới đến kinh sư, xong việc lại về. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Chế độ nhà Trần các vương hầu đều ở phủ đệ, ở hương của mình, khi chầu hầu mới đến kinh sư, xong việc lại về. Như Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp, Thủ Độ ở Quắc Hương, Quốc Chẩn ở Chí Linh đều thế cả”3.

Tình hình sở hữu ruộng đất ở khu vực tỉnh Hải Dương dưới triều Lý - Trần tư liệu rất mờ nhạt. Nhưng trên địa bàn Xứ Đông xưa, đồng bằng phì nhiêu, đất đai màu mỡ, dân cư đông đúc, đời sống sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp phát triển. Căn cứ vào một số thư tịch cổ còn ghi chép lại, đất đai phân phong cho các vương hầu quý tộc làm điền trang thái ấp trên đất Hải Dương xưa (chủ yếu là thời Trần) có thể thống kê như sau:

- Thái ấp (hương) Vạn Kiếp của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn:

Sau cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ nhất (1258), Hưng Đạo Đại vương được nhà Trần cử về xây dựng căn cứ Vạn Kiếp, lập phòng tuyến quân sự vùng Đông Bắc để bảo vệ kinh đô Thăng Long. Địa giới vùng đất hương Vạn Kiếp, trong nhân dân có câu: “Đầu Vàng, cuối Bạc, giữa Mo Gạo”. Nghĩa là đầu (phía đông) là làng Vàng Gián (còn gọi là Hoàng Gián), xã Hoàng Tân; cuối (phía tây) là làng Bạc - thôn Nam Tào, xã Hưng Đạo;

giữa là làng An Mô, làng Gạo, xã Lê Lợi. Chiều đông - tây từ Hoàng Gián đến

1. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.2, tr.71.

2. Lê Quý Đôn: Kiến văn tiểu lục, Nxb. Sử học, Hà Nội, 1962. tr.156.

3. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.38.

làng Bạc dài 15km. Chiều bắc - nam từ núi Phượng Hoàng (thành phố Chí Linh ngày nay) đến núi Huyền Đinh (huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang) khoảng 10km. Vùng đất này không chỉ là căn cứ quân sự hiểm yếu mà còn là căn cứ hậu cần, sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, sản xuất gốm sứ, gạch ngói... phục vụ đắc lực cho cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1288). Khu trung tâm thái ấp Vạn Kiếp của Hưng Đạo Đại vương nằm ở thung lũng núi Trán Rồng và cánh đồng Vạn Yên của xã Hưng Đạo ngày nay, được chia ra nhiều khu vực liên hoàn với các chức năng khác nhau.

+ Khu vực Sinh Từ (Từ Cũ): Đây là nơi Hưng Đạo Đại vương sinh sống cùng gia quyến, đồng thời là thủ phủ chỉ huy của cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1288). Sau kháng chiến thắng lợi, do có nhiều công lao với đất nước, vua Trần đã cho xây dựng đền thờ Hưng Đạo Đại vương từ lúc ngài còn sống, gọi là Sinh Từ. Ngày nay, Sinh Từ chỉ còn nền móng cũ rộng khoảng 15.000m2. Kết quả khai quật khảo cổ học đã phát hiện dấu tích ba cấp nền móng kiến trúc được xây bằng gạch thời Trần và hệ thống kè bằng đá khá kiên cố, cùng nhiều di vật gốm sứ. Trên các ngọn núi ở quanh Sinh Từ: núi Quy, Cây Khế, núi Trán Rồng và Khe Giun... còn phát hiện những dấu tích kiến trúc và đường ống dẫn nước bằng đất nung cỡ lớn (ống dài 40 - 43cm, đường kính 35cm). Tại Khe Giun (cách Từ Cũ 50m về phía nam) còn phát hiện nhiều mảnh thạp gốm hoa nâu lẫn trong gạch ngói thời Trần và than tro. Như vậy, Sinh Từ - trung tâm phủ đệ Vạn Kiếp là quần thể kiến trúc liên hoàn với nhiều hạng mục công trình có quy mô lớn.

+ Xưởng Thuyền: Từ Sinh Từ đi theo sông Vang về phía bắc khoảng 800m là Xưởng Thuyền. Đây là nơi chế tạo thuyền chiến của Hưng Đạo Đại vương.

Xưởng Thuyền là dải đất chạy dài khoảng 500m nằm cạnh sông Vang và sông Lục Đầu, diện tích khoảng 30.000m2.

+ Xóm Hống: Tiếp giáp với Xưởng Thuyền là xóm Hống, đây là nơi chế tác đồ gốm sứ. Kết quả khai quật và thám sát khảo cổ học cho thấy quy mô sản xuất gốm sứ ở phủ đệ Vạn Kiếp khá lớn. Di chỉ gốm sứ kéo dài từ xóm Hống dọc theo bờ sông Lục Đầu lên làng Trạm dài chừng 3km; thời gian sản xuất gốm sứ kéo dài từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVI.

+ Hành Cung: Cách xóm Hống khoảng 300m về phía nam, Hành Cung giáp với núi Cây Khế, đây là nơi ngự của vua Trần và các hoàng thân quốc thích mỗi khi về hương Vạn Kiếp. Hành Cung có diện tích khoảng 40.000m2.

Các di tích Sinh Từ, Xưởng Thuyền, xóm Hống, Hành Cung đều nằm ở hai bên bờ sông Vang, nay là cánh đồng Vạn Yên, xã Hưng Đạo.

+ Đền Kiếp Bạc: Sau cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ ba thắng lợi, đất nước thanh bình, Hưng Đạo Đại vương đã di dời phủ đệ (nơi ở) từ thung trong ra thung ngoài (khu vực đền Kiếp Bạc ngày nay). Năm 1300, Hưng Đạo Đại vương qua đời tại hương Vạn Kiếp, triều đình đã cho lập đền thờ ngài ngay trên phủ đệ cũ gọi là đền Kiếp Bạc. Đền Kiếp Bạc tựa vào núi Trán Rồng.

Phía nam đền là núi Dược Sơn, trên núi có đền thờ quan Nam Tào; phía bắc là núi Bắc Đẩu, có đền thờ quan Bắc Đẩu. Dưới chân núi Trán Rồng có hệ thống đường ống bằng đất nung thời Trần (ống nước dài 40 - 43cm, đường kính 35cm), dẫn nước từ mạch nguồn trong núi Trán Rồng về đền Kiếp Bạc; tại đây có hố Chân Bia, tương truyền đây là nơi Thái Thượng hoàng Trần Thánh Tông lập văn bia ca ngợi công đức của Hưng Đạo Đại vương.

+ Bến Vạn Kiếp: Trước cửa đền Kiếp Bạc là bến Vạn Kiếp trên sông Lục Đầu. Bến Vạn Kiếp kéo dài từ làng Bạc (bến Bạc) giáp cồn Kiếm đến cửa đền Kiếp Bạc dài khoảng 500m. Trong trận Vạn Kiếp năm Ất Dậu (1285), 20 vạn quân Nguyên đã bị tiêu diệt ở bến sông này. Sau kháng chiến chống Nguyên, bến Vạn Kiếp trở thành nơi giao thương buôn bán rất sầm uất của cả vùng.

Trong các kỳ lễ hội, bến Vạn Kiếp là nơi tụ họp thuyền bè, hải sản từ ngoài biển lên, hàng hóa ở đồng bằng và lâm thổ sản từ các vùng sơn lâm phía Bắc về tạo thành hội chợ Vạn Kiếp dài ngót 2km dọc bờ sông Lục Đầu.

+ Dược Sơn: Vườn thuốc bao gồm toàn bộ núi Nam Tào, cho nên núi Nam Tào còn gọi là núi Dược Sơn. Đây là một trong tám di tích có cảnh quan đẹp và linh thiêng của “Chí Linh bát cổ”, gọi là “Dược Lĩnh cổ viên”. Vườn thuốc do phu nhân của Hưng Đạo Đại vương là Thiên Thành Thái Trưởng công chúa trực tiếp trồng và chế biến thuốc, chữa bệnh, trị thương cho quân sĩ. Nhân dân địa phương còn lưu truyền nhiều câu chuyện về việc luyện thuốc chữa bệnh của Đức Nguyên Từ Quốc mẫu. Vì thế trong đền Kiếp Bạc, trên điện thờ Mẫu có bức hoành phi “Dược Lĩnh ưu đàm”, ca ngợi Đức Nguyên Từ Quốc mẫu với nghiệp làm thuốc ở núi Dược Sơn cao quý, đẹp như hoa Ưu Đàm của nhà Phật. Mặc dù khu di tích này đã bị chiến tranh, thiên nhiên và thời gian, con người tàn phá, nhưng đến nay theo thống kê vẫn còn trên 300 loài thảo dược là những vị thuốc được nhân dân lưu truyền dùng để chữa bệnh.

+ Hang Tiền: Nằm ở phía nam chân núi Bắc Đẩu, nay thuộc thôn Bắc Đẩu, xã Hưng Đạo, cách đền Kiếp Bạc 500m về phía bắc. Tương truyền, khi Hưng Đạo Đại vương về lập phủ đệ Vạn Kiếp, ngài đã được triều đình cho phép đúc tiền để lưu hành và nộp vào ngân khố quốc gia. Ngài đã cho xây dựng hang chứa tiền. Ngày nay, khu vực này đã bị nhân dân san lấp, xây dựng nhà ở, cho nên không còn dấu tích.

+ Hố Thóc: Từ đền Kiếp Bạc đi về phía đông nam 2km là thung lũng Hố Thóc, có diện tích 40.000m2, được bao bọc xung quanh bởi núi Hố Mây ở phía đông bắc và núi Phượng Hoàng ở phía tây nam. Đây là kho lương thực lớn của căn cứ Vạn Kiếp. Kết quả khai quật khảo cổ học đã phát hiện nhiều dấu tích thóc cháy và than tro.

+ Xóm Nẫm: Nằm cạnh sông Vang và xóm Bến, từ xóm Nẫm đến Hành Cung chừng 500m về phía nam. Đây là kho Nẫm chứa lương thực của Hưng Đạo Đại vương. Di tích xóm Nẫm nay chỉ còn lại nghè Nẫm, khu vực đất đai xung quanh nay trở thành khu dân cư của xã Hưng Đạo.

+ Xóm Bến: Nằm kề bên ngòi Mô và sông Vang. Đây là bến thuyền xưa của Hưng Đạo Đại vương. Từ xóm Bến xuôi sông An Mô (ngòi Mô) khoảng 500m ra sông Lục Đầu; ngược sông An Mô về phía đông khoảng 6km là núi Đá Bạc, núi Huyền Đinh, núi Thanh Mai... Phía sau xóm Bến là núi Cây Khế và Sinh Từ - thủ phủ chỉ huy của Hưng Đạo Đại vương. Xóm Bến nhìn ra khu đầm nước rộng lớn của ngòi Mô (ngày nay, về mùa mưa đầm nước rộng khoảng 2km, dài khoảng 4km) có thể chứa được hàng trăm chiến thuyền. Đây là nơi tập kết thuyền bè, luyện thủy quân của Hưng Đạo Đại vương trong kháng chiến.

Có thể khẳng định, ở thế kỷ XIII, XIV, thái ấp Vạn Kiếp của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn không chỉ là căn cứ quân sự, mà còn là khu vực có nền kinh tế nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp... rất phát triển. Nhiều ngành nghề nổi tiếng thời bấy giờ được duy trì phát triển đến tận các thế kỷ sau này như: sản xuất gốm sứ, đan thuyền, sản xuất gạch ngói, đánh cá, làm thuốc nam... Đây là nguồn lực quan trọng giúp cho cuộc kháng chiến của nhà Trần nhanh chóng đi đến thắng lợi; đồng thời là động lực để phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực đông bắc kinh thành Thăng Long trên địa bàn Hải Dương.

- Thái ấp của Huệ Vũ Đại vương Trần Quốc Chẩn:

Khu vực thái ấp của Huệ Vũ Đại vương Trần Quốc Chẩn ở ven sông Kinh Thầy, thành phố Chí Linh (nay là ba thôn Kiệt Đặc, Kiệt Đoài và Tường Thôn).

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Quốc Chẩn ở Chí Linh”. Đền thờ Huệ Vũ Đại vương Trần Quốc Chẩn (ở phường Chí Minh, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương), từ thời Lê đã được ghi danh là “Thượng Tể cổ trạch”, một trong tám di tích nổi tiếng của “Chí Linh bát cổ”. Trước đây, quanh đền thờ còn một khu ruộng gọi là ruộng “tứ nha” (Đông - Tây - Thượng - Hạ) khoảng 40 mẫu, do Trần Quốc Chẩn để lại làm ruộng thờ cúng1.

- Thái ấp của Thượng tướng Trần Phó Duyệt:

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép sự kiện năm 1282: “Châu Chí Linh vốn là của riêng của Thượng tướng Trần Phó Duyệt, cho nên Khánh Dư mới giữ lại được”2, nhưng do không còn dấu vết và tư liệu nên không thể mô tả cụ thể.

Hiện nay, bên bờ hữu ngạn sông Kinh Thầy thuộc phường Cổ Thành, thành phố Chí Linh còn đền thờ Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư. Ông là một trong những vị tướng kiệt xuất có nhiều chiến công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên ở thế kỷ XIII. Phải chăng thái ấp của Thượng tướng Trần Phó Duyệt được truyền lại cho con trai là Trần Khánh Dư mà sử cũ đã ghi “vốn là của riêng”?. Quy mô điền trang thái ấp này có lẽ là toàn bộ diện tích của phường Cổ Thành và phường Văn An ngày nay (tiếp giáp với thái ấp của Trần Hưng Đạo ở phía bắc và thái ấp của Huệ Vũ Đại vương Trần Quốc Chẩn ở phía nam).

- Thái ấp của Thiếu bảo, Quan Phục hầu Trần Khắc Chung:

Đỗ Khắc Chung là quan chức cao cấp của triều Trần, do có nhiều công lao, ông được triều đình ban họ Trần (Trần Khắc Chung). “Ông được nhà vua gả cho công chúa Bảo Hoàn. Trong Bia đất Tam Bảo núi Thiên Liêu (Bia về đất Tam Bảo núi Thiên Liêu - Thiên Liêu sơn Tam Bảo địa) được tìm thấy trên núi Thung (xưa gọi là núi Thiên Liêu), ở xã Yên Đức, huyện Đông Triều (nay là thị xã

1. Xem Nguyễn Thị Phương Chi: Kinh tế, xã hội thời Trần (thế kỷ XIII - XIV), Sđd, tr.31.

2. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.53.

Đông Triều - BT), tỉnh Quảng Ninh là đất đai của Trần Khắc Chung và vợ ông là công chúa Bảo Hoàn”1.

Tiếp giáp với vùng “đất Tam Bảo núi Thiên Liêu” về phía nam bên sông Kinh Thầy là trang Hiệp Sơn, quê hương của Trần Khắc Chung, nay thuộc phường Hiệp Sơn, thị xã Kinh Môn. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, Trần Khắc Chung được vua Trần cử trấn giữ vùng đất phía nam thị xã Kinh Môn từ sông Kinh Thầy (xã Hiệp Thượng) đến sông Kinh Môn (xã Lạc Long). Ngày nay còn một số địa phương thờ Trần Khắc Chung ở các đình, đền nằm bên bờ tả ngạn sông Kinh Môn như: đình Thánh ở thôn Trần Xá, đình Ngô Đồng, đình Quýt, đình Mụa, đình Ghì... thuộc xã Lạc Long, thị xã Kinh Môn.

Đối diện bên hữu ngạn sông Kinh Môn là thôn Thượng Đỗ, xã Thượng Vũ, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương; thời Trần là trang Thượng Đỗ do thành hoàng làng là Đỗ Thiên Thư (Đỗ Thiên Hứ)2 lập ra. Đỗ Thiên Thư là vị tướng được vua Trần cử về trông coi vùng đất phía nam sông Kinh Môn. Rất có thể bên cạnh việc trấn thủ vùng đất này, Trần Khắc Chung và Đỗ Thiên Thư còn được nhà vua giao cho đất đai và các hộ dân để thực hiện xây dựng điền trang thái ấp, theo chế độ “ngụ binh ư nông” của nhà Trần.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “mùa thu, tháng Chín năm Ất Hợi (1335), Thượng hoàng (Minh Tông) thân chinh đi đánh Ai Lao, Đỗ Thiên Hứ quản quân Khoái Lộ (quân Thần Sách) đang bị ốm nặng... vào đến cõi đất giặc thì chết. Thượng hoàng lấy làm thương tiếc, sắc cho dùng nhạc thái thường để thờ cúng”3. Nhân dân trang Thượng Đỗ nhớ công ơn của ông, lập đền thờ cúng.

- Ấp thang mộc của An Sinh vương Trần Liễu:

An Sinh vương Trần Liễu là thân phụ của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, ông được vua Trần ban cho đất thang mộc ở thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh và khu vực các xã An Phụ, An Sinh, Thượng Quận thuộc

1. Nguyễn Thị Phương Chi: Kinh tế, xã hội thời Trần (thế kỷ XIII - XIV), Sđd, tr.31-32.

2. Thần tích đình làng Thượng Đỗ ghi công trạng thành hoàng làng là Đỗ Thiên Thư (Đỗ Thiên Hứ) có công giúp Thượng hoàng Trần Minh Tông đi đánh Ai Lao bị tử trận.

3. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.114.

thị xã Kinh Môn ngày nay. Thái ấp của An Sinh vương có quy mô rộng lớn, phía bắc giáp với dãy núi Yên Tử; phía nam giáp với điền trang của Trần Khắc Chung (Kinh Môn); phía đông tiếp giáp với đất đai của chùa Quỳnh Lâm (Đông Triều), kéo dài xuống tận khu vực thành phố Uông Bí, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh ngày nay. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép, năm 1237

“lấy đất các xã An Phụ, An Dưỡng, An Sinh, An Hưng, An Bang cho Liễu làm ấp thang mộc và phong làm An Sinh vương ở đất ấy”1.

Khu vực trung tâm của thang mộc ấp nay là xã An Sinh, thị xã Đông Triều (Quảng Ninh), nhà Trần cho xây dựng hệ thống đền đài, thái miếu, lăng mộ... giao cho An Sinh vương Trần Liễu trực tiếp quản lý.

Thái lăng (lăng mộ vua Trần Anh Tông) xây dựng năm Canh Thân (1320), đến năm Canh Ngọ (1330) phụ táng Bảo Từ Hoàng thái hậu (phu nhân vua Anh Tông). Thái miếu xây dựng năm Đinh Dậu (1237), thờ các đời thủy tổ nhà Trần, sau này là nơi thờ các vua Trần. Mục lăng (lăng mộ vua Trần Minh Tông) xây dựng năm Đinh Dậu (1357). Ngải Sơn lăng (mộ vua Trần Hiến Tông) xây dựng năm Tân Tỵ (1341). Phụ Sơn lăng (lăng mộ vua Trần Dụ Tông) xây dựng năm Kỷ Dậu (1369). Hy lăng (lăng mộ vua Trần Duệ Tông) xây dựng năm Đinh Tỵ (1377). Lăng Tư Phúc (nơi thờ thần vị của các vua:

Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Trần Ngỗi - Giản Định đế) xây dựng năm Đinh Tỵ (1377)2. Nguyên lăng (lăng mộ vua Trần Nghệ Tông) xây dựng năm Giáp Tuất (1394).

Ngoài ra, ở thang mộc ấp của An Sinh vương, nhà Trần còn cho xây dựng nhiều đền chùa nổi tiếng của thiền phái Phật giáo Trúc Lâm như: quần thể di tích chùa Yên Tử, chùa Ngọa Vân trên núi Bảo Đài, chùa Hồ Thiên trên núi Phật Sơn, thuộc hệ thống núi Yên Tử; chùa Quỳnh Lâm, chùa Trung Tiết (thuộc xã An Sinh, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh); chùa Bác Mã (nay ở xã Bình Dương, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh); chùa Tường Vân trên núi An Phụ (thuộc xã An Sinh, thị xã Kinh Môn); Ngọc Thanh Đạo quán ở

1. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.16.

2. Có khả năng là Giản Định đế được phối thờ sau này vì Giản Định đế là vị vua thời Hậu Trần (đầu thế kỷ XV).

Một phần của tài liệu LICH SU HAI DUONG tap 2 (Trang 86 - 95)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(516 trang)