Tình hình Nho, Phật, Đạo

Một phần của tài liệu LICH SU HAI DUONG tap 2 (Trang 106 - 121)

III- VĂN HÓA, GIÁO DỤC VÀ KHOA HỌC KỸ THUẬT

1. Tình hình Nho, Phật, Đạo

a) Phật giáo

Kế thừa nền tảng tư tưởng Phật giáo từ thời kỳ Đinh, Tiền Lê, Phật giáo thời Lý, Trần đã có sự phát triển về nhiều mặt, trở thành hệ tư tưởng chính trong đường lối trị nước thời bấy giờ. Việc dựng chùa, xây tháp, đúc chuông, tô tượng, độ dân làm sư sãi, thỉnh kinh phật... được các vị vua Lý, Trần rất quan tâm. Không những vậy, nhiều dòng phái Phật giáo mang đặc trưng bản địa đã ra đời, tạo sự phong phú, đa dạng trong đời sống tinh thần của nhân dân Đại Việt thế kỷ XI - XIV, đó là thiền phái Thảo Đường do vua Lý Thánh Tông khởi xướng; thiền phái Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông sáng lập. Có thể nói, Phật giáo thời Lý, Trần phát triển cực thịnh, được truyền bá rộng rãi và có ảnh hưởng to lớn đến đời sống xã hội và nhân dân. Từ trước đến nay nhiều người quan niệm, Phật giáo dưới thời Lý, Trần là quốc giáo nhưng trên thực tế, hệ tư tưởng nói chung của thời kỳ này là Tam giáo đồng nguyên, trong đó Phật giáo mang tính trội, theo thứ tự Thích - Đạo - Nho (thời Lý) hoặc Thích - Nho - Đạo (thời Trần)1.

Sang thời nhà Lý, nhiều ngôi chùa được tạo dựng.

1. Xem Nguyễn Duy Hinh: Văn minh Đại Việt, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2017, tr. 487, 545.

Bảng 2.2: Những ngôi chùa được tạo dựng thời nhà Lý

STT Tên chùa Tên xã/phường/thị trấn (ngày nay)

Tên huyện, thành phố/thị xã

(ngày nay)

Ghi chú

1 Am Bình Dương Phả Lại Thành phố Chí Linh

2 Vĩnh Khánh An Bình

Nam Sách

3 Phúc Khánh An Lâm Dựng năm 1204

4 Bảo Lâm Hiệp Hòa

Thị xã Kinh Môn

5 Kính Chủ Phạm Mệnh

6 Dương Nham Dương Nham

7 Minh Khánh Thị trấn Thanh Hà

Thanh Hà

8 Bạch Hào Thanh Xá Dựng năm 1011

9 Vinh Phúc Du La

10 Nghiêm Quang Thị trấn Gia Lộc

Gia Lộc

11 Sùng Thiên Nhật Tân Dựng đầu thế

kỷ XIII

12 Quang Minh Quang Minh

13 Cẩm Đới Thống Nhất

14 Sùng Ân Đông Xuyên

Ninh Giang 15 Chùa Hưng Long

(chùa Trông)

Hưng Long

16 Tam Tập Tân Phong

17 Sùng Phúc Nhân Quyền Bình Giang

18 Vạn Phúc Phường Hải Tân

Thành phố Hải Dương

19 Sùng Phúc Phường Tứ Minh

Nguồn: Thống kê theo sách Phật giáo Hải Dương - Những chặng đường, Sđd.

Bên cạnh đó, nhiều ngôi chùa thờ tự các nhân vật thời Lý như: chùa Cao Xá (xã Thái Học, huyện Bình Giang), chùa Hán Lý (xã Hưng Long, huyện Ninh Giang) thờ Nguyễn Minh Không; chùa Cẩm Trực (xã Ngọc Liên, huyện Cẩm Giàng) thờ Nguyên phi Ỷ Lan; chùa Mạn Đê (xã Nam Trung,

huyện Nam Sách) thờ Hoàng Hồng có công đánh giặc Ai Lao; chùa Linh Quang (xã Cẩm Chế, huyện Thanh Hà) thờ Thái úy Lý Thường Kiệt... Điều này cho thấy, Phật giáo thời Lý ở vùng này đã phát triển khá mạnh, nhất là khu vực phía bắc và tây của Hải Dương ngày nay1.

Dưới thời Lý, điển hình có Thiền sư Bản Tịnh (1100 - 1176), người đã từng về trụ trì am Bình Dương trên dãy núi Kiệt Đặc (nay thuộc phường Văn An, thành phố Chí Linh) vào năm Tân Dậu (1141). Thiền sư là người họ Kiều ở hương Phù Diễn, quận Vĩnh Khang (nay thuộc Hà Nội). Ông thuộc thế hệ thứ 9 của dòng thiền Vô Ngôn Thông (cùng với các thiền sư Không Lộ, Đạo Huệ, Bảo Giám, Biện Tài...). Trước khi mất, ông được Thành Dương công chúa mời về trụ trì chùa Kiến An ở kinh đô Thăng Long. Thiền sư Minh Không (1066 - 1141) được thờ ở nhiều địa phương thuộc Hải Dương. Mục “Đền Thiền sư Minh Không” trong sách Đại Nam nhất thống chí có chép: Ở xã Hán Lý, huyện Vĩnh Lại. Thiền sư họ Nguyễn, tên tự là Chí Thành, người xã Đàm Xá, huyện Gia Viễn. Thuở nhỏ, Sư là bạn học với Từ Đạo Hạnh, đến chùa Vân Mộng thụ giới (tu hành), sau làm cao tăng thời Lý. Vua Lý Thần Tông có bệnh, Sư điều trị khỏi bệnh cho vua, sau đó được phong là Quốc sư. Tương truyền Sư siêu hóa (mất) ở núi Tam Viên, xã Hán Lý. Di tích nay vẫn còn. Mục “Chùa quán” của sách này cũng cho biết: Chùa Hưng Long ở xã Hán Lý, huyện Vĩnh Lại (nay thuộc xã Hưng Long, huyện Ninh Giang), trước chùa có sông Cửu Khúc. Tương truyền đây là quê mẹ của thiền sư Minh Không, nên dựng chùa ở đấy. Thiền sư Minh Không cùng với hai Thiền sư Đạt Mạn và Đạo Hạnh kết làm anh em, ba người ở chung tại đây tu hành. Sau khi mất, pháp tượng hiển linh, thường đằng vân giá vũ, cầu đảo gì cũng được linh ứng, nên dân xã đắp ba pho tượng phụng thờ.

Sách Thiền uyển tập anh còn cho biết, các thiền sư thuộc dòng pháp Tỳ ni đa lưu chi đã từng tu tập tại đây như Thiền sư Ma Ha (tên cũ là Ma Ha Ma Gia, thuộc dòng thứ 10), trụ trì chùa Quan Ái ở làng Đào Gia, xã Cổ Miệt (sau thuộc tổng Hương Đại, huyện Thanh Hà); Tăng thống Huệ Sinh (? - 1064, thuộc dòng thứ 13), vốn họ Lâm tên Khu ở Trà Sơn (tổng Dưỡng Chân,

1. Xem Nguyễn Đại Đồng và Thích Quảng Pháp: Phật giáo Hải Dương - Những chặng đường, Sđd, tr.17-18. Tập thể tác giả có nhận định: “Các chùa trên vẫn chủ yếu chịu ảnh hưởng của dòng thiền Tỳ ni đa lưu chi (sơn môn Dâu) và Vô Ngôn Thông (sơn môn Kiến Sơ) giống như thời Đinh và Tiền Lê”.

huyện Thủy Đường); Thiền sư Chân Không (1046 - 1100, thuộc dòng thứ 16) từng trụ trì và tu tập tại chùa Chúc Thánh ở núi Phổ Lại và trại Phù Lan1...

Thời Trần, vùng đất Hải Dương, Đông Triều (Quảng Ninh) và một phần Hải Phòng ngày nay, không chỉ là một trung tâm của Phật giáo Việt Nam mà còn là địa bàn hoằng pháp trọng yếu của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Vì vậy, mật độ các ngôi chùa ở đây dày đặc, phong phú và đa dạng.

Bảng 2.3: Những ngôi chùa được tạo dựng thời nhà Trần

STT Tên chùa Tên xã/phường/thị trấn

(ngày nay)

Tên huyện/ thành phố/

thị xã (ngày nay) 1 Côn Sơn (Thiên Tư Phúc tự) Cộng Hòa

Thành phố Chí Linh 2 Nam Tào - Bắc Đẩu Hưng Đạo

3 Lệ Kỳ, Huyền Thiên Văn An

4 Thanh Mai Hoàng Hoa Thám

5 Khái Lai (Thời Lời) Bến Tắm

6 Ngũ Đài Hoàng Tiến

7 Hương Hải Ái Quốc

Thành phố Hải Dương 8 Phúc Quang/Thạc An Nam Đồng

9 Hàm Long Minh Tân

Thị xã Kinh Môn

10 Tường Vân An Sinh

11 Thiên Kỳ Hoành Sơn

12 Vạn Đức Phú Thứ

13 Chùa Cả Tân An

Thanh Hà

14 Hào Xá/Bạch Hào Thanh Xá

15 Dương Đường Vĩnh Lập

16 Vĩnh Khánh Thanh Thủy

1. Trại Phù Lan thuộc tỉnh Bắc Ninh ngày nay, nhưng cũng có tư liệu cho rằng, trại đó thuộc tỉnh Hưng Yên.

STT Tên chùa Tên xã/phường/thị trấn (ngày nay)

Tên huyện/ thành phố/

thị xã (ngày nay)

17 Khánh Linh Phượng Kỳ Tứ Kỳ

18 Văn Xá Ngô Quyền

Thanh Miện

19 An Khoái Tứ Cường

20 Kim Liên Thúc Kháng

Bình Giang 21 Chùa Thánh Thọ (chùa Vạc) Thái Học

22 Kẻ Sặt Thị trấn Kẻ Sặt

23 Văn Thai Cẩm Văn

Cẩm Giàng

24 Trà Lai Cẩm Định

25 Hải Triều (chùa Giám) Cẩm Sơn

26 Chùa Muống Ngũ Phúc Kim Thành

27 Sùng Thiên

Nhật Tân Gia Lộc

28 Chúc Thánh

Nguồn: Thống kê theo sách Phật giáo Hải Dương - Những chặng đường, Sđd.

Vùng đất lộ Hồng khi đó cũng đã sinh ra một số vị cao tăng, tiêu biểu nhất là Trúc Lâm đệ Nhị tổ - Pháp Loa Tôn Giả. Ông tên thật là Đồng Kim Cương (pháp danh là Pháp Loa) sinh ngày 07 tháng Năm năm Giáp Thân (1284) ở thôn Đồng Hòa, hương Cửu La, Nam Sách Giang (nay thuộc phường Ái Quốc, thành phố Hải Dương). Nội dung tấm bia Thanh Mai Viên Thông bảo tháp bi hiện còn tại chùa Thanh Mai (xã Hoàng Hoa Thám, thành phố Chí Linh) không chỉ cung cấp nhiều thông tin quan trọng về cuộc đời, sự nghiệp hoằng dương phật pháp của thiền sư Pháp Loa mà còn cho biết về thời điểm chia tách lộ Nam Sách thành Nam Sách Thượng lộ (chùa Thanh Mai và chùa Khái Lai thuộc thành phố Chí Linh) và Nam Sách Hạ lộ (xã Ông Đại) diễn ra trước năm 13621.

1. Xem Thích Đức Thiện, Đinh Khắc Thuân (Chủ biên): Văn bia thời Trần, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2016, tr.198-199.

Tuệ Tĩnh Thiền sư, tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh, người hương Xưa (nay là xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng), không chỉ nổi tiếng trong lĩnh vực y dược học cổ truyền mà còn được biết đến là vị Thiền sư có nhiều gắn bó với ngôi chùa Hải Triều và Giao Thủy, được vua nhà Minh tôn phong làm Đại y Thiền sư.

Câu đối tại đền Bia (xã Cẩm Văn, huyện Cẩm Giàng) ngợi ca ông:

Mở rộng phương Tiên, công tế thế cao bằng Thái lĩnh Sống nhờ cửa Phật, ơn cứu người rộng tựa Cẩm giang1.

Vương Quán Viên (có tài liệu ghi tên là Vương Thiên Huệ) người làng Trà Xuyên, Dưỡng Mông (nay thuộc xã Ngũ Phúc, huyện Kim Thành), người từng có công chữa khỏi bệnh đau mắt cho vua Trần Minh Tông, sau được vua Trần Anh Tông ban cho pháp hiệu là Tuệ Nhẫn Quốc sư2. Ông cũng là người có công lớn, khi cho xây dựng đến 72 ngôi chùa lớn nhỏ, trong đó có chùa Đông Sơn, dân gian gọi là chùa Non Đông, nay thuộc thị trấn Mạo Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh (vì là người đầu tiên sáng lập nơi đây, nên nhân dân kính trọng, tôn gọi là Thánh tổ Non Đông) và các chùa ở quê hương huyện Kim Thành như chùa Phí Gia (xã Đồng Gia), chùa Bùi, chùa Lành và chùa Gạo (xã Kim Tân), chùa Linh Quang (xã Kim Lương).

1. Tháng Chín năm Bính Ngọ (1846), vua Thiệu Trị đã ra lệnh hủy bỏ bia đá Thiền sư ở Hải Dương vì ở “xã Văn Thai (thuộc huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương) gần đây được cái bia đá cổ, ngoa truyền là Tuệ Tĩnh thiền sư giáng thế (thiền sư người làng Nghĩa Phú, huyện Cẩm Giàng) lấy thuốc nam chữa khỏi bệnh, gần xa tranh nhau đến cầu đảo, hằng ngày kể đến hàng nghìn, hàng trăm, quan tỉnh ấy không thể ngăn cấm được, đem việc ấy tâu lên. Vua bảo rằng: Việc ấy thuộc về hoang đường, nên phá bỏ ngay đi, để bỏ sự mê hoặc cho người đời. Bèn sai đạp đổ bia. Đến đây, Án sát Nguyễn Khắc Trạch vào hầu, vua triệu vào hỏi đến việc ấy. Trạch tâu: Bọn hạ thần kính theo chỉ vua, mài bỏ bia đá, từ đó, đi lại cầu đảo mới hết” (Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007, tập Sáu, tr.927).

2. Theo nội dung tấm bia Quang Khánh tự bi minh tịnh tự dựng năm 1515 tại chùa Quang Khánh, xã Ngũ Phúc. Ở đây, Tuệ Nhẫn Quốc sư chính là “sư ông Mộng” trong sách Đại Nam nhất thống chí đã từng ghi chép: “Chùa Quang Khánh ở xã Dưỡng Mông, huyện Kim Thành, sư ông Mộng trụ trì ở đây, tu luyện đắc đạo, phép thuật tinh thông. Vua Trần Minh Tông đau mắt, các thầy thuốc điều trị không khỏi, đêm mộng thấy một thầy thuốc tự xưng là ông Mộng, khi tỉnh dậy, không cần thuốc thang mà mắt tự khỏi, bèn lấy tên người trong mộng hỏi khắp châu huyện, khi đến chùa này mới thấy, nhà vua sắc phong là Từ Giác Quốc sư, lại phát tiền kho tu bổ chùa quán, cho tên là chùa Quang Khánh, Lê Thánh Tông có đề thơ khắc vào đá nay vẫn còn”.

Bên cạnh đó, nội dung tấm bia Sùng Thiên tự bi cho biết, chùa Sùng Thiên vốn ở chợ Chưng, xã Dặc, lộ Hồng (nay là thôn Thị Đức, xã Nhật Tân, huyện Gia Lộc) dựng vào ngày Phật đản tháng Tư niên hiệu Khai Hựu thứ 3 (1331). Văn bia cung cấp nhiều tên các địa danh khi đó như huyện Tứ Kỳ, xã Bình, xã Duệ, xã Ma, xã Ông Đích, xã Cha Lão, xã Bấy Náo, làng Kiều, núi Khả Lôi, cầu Quảng Hàn,... cùng các vị hòa thượng Huệ Văn, thiền sư Chính Nghiêm, thiền sư Thanh Sầm. Bia ghi lại vị trí, diện tích cùng họ tên của những người đã cúng ruộng, trong đó có Văn Giang hầu giữ chức Tán trị công thần Binh bộ Lang trung đã cúng 4 lạng rưỡi bạc nén để dựng tòa tiền đường từ năm Mậu Dần (1338) đến năm Tân Tỵ (1341), rồi lại cúng thêm 36 quan 2 mạch để làm ba gian hậu phòng của chùa.

b) Nho giáo

Thời Lý - Trần, Nho giáo đã bước đầu xác lập ảnh hưởng đến thiết chế chính trị, xã hội của triều đình cũng như ở các địa phương. Sự kiện mở đầu mang tính quan trọng đó là vua Lý Thánh Tông cho dựng Văn Miếu năm 1070 và vua Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám năm 1076. Từ đó về sau, đã xuất hiện một tầng lớp nho sĩ được đào tạo theo ý thức hệ Nho giáo. Trong 6 khoa thi dưới thời Lý (vào các năm 1075, 1086, 1152, 1165, 1185, 1193), tư liệu cho biết về 11 người đỗ đạt thì vùng đất lộ Hồng có 4 người1. Nhà Trần đã tổ chức nhiều khoa thi và “số trí thức nho sĩ đỗ đạt bậc cao có thể lên đến hàng nghìn, đáng tiếc vì thời gian quá xa, tư liệu mất mát, chúng ta chỉ còn được biết 52 vị mà thôi”2, trong đó Hồng lộ có 13 người đỗ đạt3. Một số nhân vật tiêu biểu, tuy không phải là người vùng đất này nhưng có gắn bó mật thiết với vùng đất Côn Sơn - Kiếp Bạc (thành phố Chí Linh), đó là Chu Văn An, Trần Nguyên Đán, Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư, Trần Quốc Chẩn, Lý Đạo Tái.

c) Đạo giáo

Thời Lý - Trần, Đạo giáo cũng rất phổ biến, chi phối mạnh mẽ đến mọi hoạt động chính trị và quân sự. Tháng Hai năm Mậu Thân (1128), khi

1. Đó là: Mạc Hiển Tích, Đỗ Thế Diên, Bùi Quốc Khái và Phạm Tử Hư.

2. Ngô Đức Thọ (Chủ biên): Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075 - 1919), Nxb. Văn học, Hà Nội, 2016, tr.8.

3. Đó là: Trương Hanh, Trần Quốc Lặc, Trần Uyên (thuộc huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên), Trần Cố, Hạ Nghi, Mạc Đĩnh Chi, Trần Đình Thâm (thuộc huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh), Đồng Thức, Ngô Tần, Vũ Vị Phủ, Phạm Văn Tuấn, Nguyễn Phi Khanh và Phạm Sư Mạnh.

vua Lý Thần Tông lên ngôi, thấy “lá phướn của hai chùa Thiên Long và Thiên Sùng không gió mà tự lay động như múa. Vua ngự xa giá đến hai chùa ấy để lễ tạ”. Cùng thời điểm đó, tin báo thắng trận của Thái phó Lý Công Bình về đến kinh sư, “vua ngự đến hai cung Thái Thanh, Cảnh Linh và các chùa quán trong thành để lễ tạ ơn Phật và Đạo đã giúp ngầm cho Công Bình đánh được người Chân Lạp”1. Ở các lộ phủ, Đạo giáo cũng phát triển. Đoàn Thượng, người quê ở làng Thung Độ, huyện Trường Tân (nay thuộc xã Đoàn Thượng, huyện Gia Lộc), là một vị tướng dưới thời Lý, song vì không thần phục nhà Trần, đã vùng lên, chiếm cứ cả vùng Hồng Châu/Hồng lộ. Sau khi mất, ông được thờ tự tại nhiều nơi và được sắc phong làm Đông Hải Đại vương, đặc biệt, tại miếu Cập Thượng (xã Tiền Tiến, thành phố Hải Dương), Đoàn Thượng được suy tôn làm Thái thượng Lão quân - có ý sánh ngang hàng với tôn hiệu vị thần tiên tối cao của Đạo giáo2.

Sách Hải Dương địa dư có chép về vị tiên Trần Đạo Căn thời Lý “có tài nhịn ăn, thường hay lập đàn viết văn tế cúng giúp người, lấy giấy che mặt, lặn xuống nước, chờ đốt hết văn tế rồi mới ngoi lên”3.

Thời Trần, theo tư liệu minh chuông chùa Sùng Quang (nay chưa rõ ở đâu) khắc năm Canh Thân (1320) cho biết, Sùng Viên quân tên là Tốn Bạc, quê ở núi Trung Sơn, xã Ỷ Lan, kiều Ma Lãng, lộ Hồng, có vợ là người từng hầu hạ hoàng hậu trong cung. Thuở còn trẻ, ông đã từng sang Trung Quốc làm nghề chiêm đoán4. Chiêm đoán cùng với các thuật bùa chú, tu luyện trường sinh...

là nét đặc trưng của Đạo giáo phù thủy ở Việt Nam.

Vùng Chí Linh đã từng có đạo sĩ nổi tiếng, từng tu tập ở động thuộc dãy núi Phượng Hoàng, tên là Huyền Vân, được vua Trần Dụ Tông “cho mời đạo sĩ Huyền Vân ở núi Chí Linh đến kinh để hỏi về phép tu luyện.

1. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.1128.

2. Thái thượng Lão quân (thường đồng nhất với Lão Tử, hoặc là một dạng hóa thân giáng trần) là một trong Tam thanh của Đạo giáo, bao gồm: Ngọc Thanh (Nguyên thủy Thiên tôn), Thượng Thanh (Linh bảo Thiên tôn) và Thái Thanh (Đạo đức Thiên tôn, chính là Thái thượng Lão quân).

3. Hải Dương địa dư, in trong Địa phương chí tỉnh Hải Dương qua tư liệu Hán Nôm, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009, tr.362.

4. Xem Thích Đức Thiện, Đinh Khắc Thuân (Chủ biên): Văn bia thời Trần, Sđd, tr.335.

Ban cho động của đạo sĩ tên là Huyền Thanh động”1 vào tháng Mười năm Mậu Thân (1368). Sách Hải Dương địa dư cho biết thêm: Từ Quan Huệ Đạo đại sư, người huyện Chí Linh, xuất gia lúc 12 tuổi, tu hành trai giới tinh khiết, năm 84 tuổi lúc sắp tịch, chim muông kêu thảm thiết, nhạc trời vang lừng, mây trắng che khuất am, hương thơm đầy nhà2. Trước đó, vua Trần Thánh Tông khi đi kinh lý Hải Đông, đã làm bài thơ Đề động Huyền Thiên như sau:

Mây che mờ mịt Huyền Thiên động Khói tỏa long lanh điện Ngọc hoàng Tiếng kệ câu kinh sao vắng vẻ Chim bay tan tác rụng hoa ngàn3.

Một dấu tích khác liên quan đến Đạo giáo thời Trần là địa danh Thanh Hư động trong Khu di tích Côn Sơn, vì “có thể động Thanh Hư cũng là nơi luyện đan của đạo sĩ nào đó nên có tên như cách đặt tên ở động Huyền Thiên trong dãy núi Phượng Hoàng - nơi cách không xa dãy núi Côn Sơn”. Khi vua Trần Nghệ Tông đến vãn cảnh nơi đây, có viết bài Đề nhà thờ quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, trong đó có câu:

Từ sớm mấy chú sơn đồng khiêng kiệu vượt bùn lầy Tới Côn Sơn, mặt trời đã ngả về tây

Hết mưa, tiếng suối xa xa xối vào đá

Gió đưa cành trúc phất phơ trên mái hiên thấp Việc muối mơ qua rồi, bia vẫn còn đây

Đàn tinh đẩu bỏ hoang, lối đi đã mờ

Động phủ quạnh vắng, người bay lên tiên rồi Chỉ còn dấu vết gợi nên nỗi buồn man mác4.

1. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.145.

2. Xem Hải Dương địa dư, in trong Địa phương chí tỉnh Hải Dương qua tư liệu Hán Nôm, Sđd, tr.363.

3. Xem Thơ văn Lý - Trần, Tập 2 - quyển Thượng, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1989, tr.401.

4. Xem Tổ Nghiên cứu - Ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc: “Về địa danh Thanh Hư động ở Côn Sơn”, www.consonkiepbac.org.vn.

Một phần của tài liệu LICH SU HAI DUONG tap 2 (Trang 106 - 121)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(516 trang)