Hải Dương thời kỳ 12 sứ quân (965 - 967)

Một phần của tài liệu LICH SU HAI DUONG tap 2 (Trang 47 - 53)

THỜI HỌ KHÚC, NGÔ, ĐINH, TIỀN LÊ

I- TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI

3. Hải Dương thời kỳ 12 sứ quân (965 - 967)

Ngay từ năm Giáp Thìn (944), sau khi Ngô Quyền mất, nhiều biến loạn chính trị diễn ra trong triều đình Cổ Loa đã làm cho nhà nước trung ương suy yếu, không còn khả năng khống chế được các hào trưởng địa phương. Các lực lượng này nhân cơ hội đó đã nổi dậy. Năm Ất Sửu (965), Nam Tấn vương Ngô Xương Văn tử trận, chính thức cho thấy chính quyền trung ương nhà Ngô không còn đủ uy tín và sức mạnh để cai quản đất nước. Trong bối cảnh đó hình thành nên 12 thế lực chiếm giữ các vùng khác nhau đưa đất nước đến “cục diện 12 sứ quân”1.

1. Về danh hiệu “sứ quân”: đây không phải là một danh xưng mà các thủ lĩnh cát cứ tự xưng khi nổi dậy. Danh xưng này chỉ được chép lại trong một số thư tịch cổ ở Việt Nam như sách Việt sử lược ghi là “Thập nhị sứ quân”, Đại Việt sử ký toàn thư ghi là “Ngô sứ quân (phụ: các sứ quân)”. Vậy sứ quân nghĩa là gì? Sách Từ nguyên và Từ hải giải thích về sứ quân: 1) Từ dùng để chỉ viên quan đứng đầu châu quận; 2) Tiếng xưng hô tôn kính đối với những viên quan lại mang theo sứ mệnh của triều đình. Như vậy, danh hiệu sứ quân bao gồm nội dung về chức tước, uy quyền của người thuộc hàng ngũ quan tước. Mười hai sứ quân bao gồm:

1. Ngô Xương Xí: là con của Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập, chiếm giữ vùng đất Bình Kiều (nay thuộc huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa).

2. Trần Lãm (xưng là Trần Minh Công): chiếm giữ vùng đất Bố Hải Khẩu (nay thuộc tỉnh Thái Bình).

3. Nguyễn Khoan (xưng là Nguyễn Thái Bình) - là anh của Nguyễn Thủ Tiệp và Nguyễn Siêu: chiếm giữ vùng Tam Đái (nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc).

4. Nguyễn Thủ Tiệp (xưng là Nguyễn Lệnh Công): chiếm giữ vùng đất Tiên Du (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh).

5. Nguyễn Siêu (xưng là Nguyễn Hữu Công): chiếm giữ vùng đất Phù Liệt (nay thuộc huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội).

6. Lý Khuê (xưng là Lý Lãng Công): chiếm giữ vùng đất Siêu Loại (nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).

7. Lã Đường (xưng là Lã Tá Công): chiếm giữ vùng đất Tế Giang (nay thuộc tỉnh Hưng Yên).

8. Phạm Bạch Hổ (xưng là Phạm Phòng Át): chiếm giữ vùng đất Đằng Châu (nay thuộc tỉnh Hưng Yên).

9. Kiều Công Hãn (xưng là Kiều Tam Chế): chiếm giữ vùng đất Phong Châu (nay thuộc tỉnh Phú Thọ).

10. Kiều Thuận (xưng là Kiều Lệnh Công): chiếm giữ vùng đất Cẩm Khê (nay thuộc tỉnh Phú Thọ).

11. Đỗ Cảnh Thạc (xưng là Đỗ Cảnh Công): chiếm giữ vùng đất Đỗ Động Giang (nay thuộc huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội).

12. Ngô Nhật Khánh (xưng là Ngô Lãm Công): chiếm giữ vùng đất Đường Lâm (nay thuộc thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội).

Thực tế, ở nước ta, khi nổi dậy các thủ lĩnh cũng không tự xưng mình là “sứ quân” mà chỉ dùng chữ “công” để ghép vào danh xưng của mình như: Ngô Nhật Khánh xưng là Ngô Lãm Công, Đỗ Cảnh Thạc xưng là Đỗ Cảnh Công, Lý Khuê xưng là Lý Lãng Công... Danh hiệu “sứ quân” là do các sử gia đời sau tham khảo thư tịch Trung Quốc để gán vào. Dựa trên những đặc điểm của các sứ quân, hiện nay, các nhà sử học cho rằng: Các sứ quân là các “thủ lĩnh địa phương”, họ đều thuộc dòng dõi con cháu hoặc tướng lĩnh cũ của nhà Ngô, nhiều người là anh em ruột thịt, họ có cả thế lực quân sự và kinh tế ở địa phương. Sau khi triều đình Cổ Loa sụp đổ, các sứ quân được dân chúng trong vùng đất họ chiếm giữ suy tôn, quy phục, đóng góp sức người, sức của để xây dựng lực lượng cho họ, đồng thời họ có trách nhiệm bảo vệ an ninh và quyền lợi cho cả vùng. Theo cách hiểu trên thì các sứ quân chỉ xuất hiện duy nhất trong lịch sử Việt Nam ở thế kỷ X.

b) Phạm Bạch Hổ, một trong 12 sứ quân, trấn giữ Hải Đông

Phạm Bạch Hổ sinh tại vùng Đằng Châu (nay thuộc phường Lam Sơn, thành phố Hư ng Yên). Theo một số tư liệu thì thân phụ của Phạm Bạch Hổ chính là Phạm Lệnh Công. Tương truyền, Phạm Lệnh Công có thời gian đi buôn bán ở bến Lảnh thuộc Đằng Châu rồi lấy vợ sinh ra Bạch Hổ tại nơi này1. Như vậy, quê gốc của Phạm Bạch Hổ là vùng Nam Sách, Hải Dương ngày nay.

Ngay từ nhỏ, Phạm Bạch Hổ đã nổi tiếng hiếu học, có tư chất thông minh, tính tình nóng nảy và cương trực. Năm Đinh Hợi (927), khi mới 18 tuổi, Phạm Bạch Hổ đã là hào trưởng vùng Đằng Châu, tầm ảnh hưởng của ông còn lan cả ra một số vùng lân cận thuộc Hồng Châu.

Năm Tân Mão (931), Dương Đình Nghệ từ Ái Châu kéo ra đánh đuổi quân Nam Hán xâm lược, Phạm Bạch Hổ đã gia nhập và trở thành một bộ tướng của Dương Đình Nghệ. Sau khi Dương Đình Nghệ bị sát hại, ông lại đem binh mã của mình gia nhập lực lượng của Ngô Quyền.

Dưới quyền lãnh đạo của Ngô Quyền, Phạm Bạch Hổ trở thành một viên tướng tài ba, dũng mãnh. Ông là một trong những người góp công lớn trong chiến thắng Bạch Đằng năm Mậu Tuất (938). Sau khi đánh thắng quân Nam Hán

1. Một số tài liệu ghi năm sinh, năm mất của Phạm Bạch Hổ là 910 - 972, cũng có tài liệu ghi năm sinh, năm mất của ông là 902 - 983.

lần thứ hai, Ngô Quyền phong ông làm Châu mục Đằng Châu coi giữ vùng đất Hưng Yên, một phần Hải Dương và Thái Bình ngày nay1.

Năm Ất Sửu (965), khi Nam Tấn vương mất, các hào kiệt cả nước cùng nổi lên cát cứ, Phạm Bạch Hổ đã trấn giữ vùng cửa biển sông Hồng, cửa ngõ quan trọng vào thành Đại La, cai quản một vùng đất đai rộng lớn, giúp nhân dân khai khẩn đất hoang, đất bồi để sản xuất nông nghiệp. Phạm Bạch Hổ là thủ lĩnh một trong 12 sứ quân cát cứ vùng Đằng Châu lúc bấy giờ. Những dấu tích ở Côn Sơn, Đông Triều cho thấy khu vực chiếm đóng của Phạm Bạch Hổ còn lan ra cả vùng Đông Bắc, tức khu vực Hải Dương, Quảng Ninh, Hải Phòng ngày nay.

Khi Đinh Bộ Lĩnh phất cờ tụ nghĩa, đánh dẹp 12 sứ quân, đầu năm Bính Dần (966), Phạm Bạch Hổ là sứ quân đầu tiên quy thuận và hợp tác với Đinh Bộ Lĩnh. Từ đó, Phạm Bạch Hổ cùng Đinh Bộ Lĩnh xông pha trận mạc đánh dẹp các sứ quân không đầu hàng và hoàn toàn loại bỏ 12 sứ quân. Năm Mậu Thìn (968), khi lên ngôi hoàng đế, Đinh Tiên Hoàng phong Phạm Bạch Hổ làm Thân vệ đại tướng quân2.

Sau khi mất, Phạm Bạch Hổ được nhân dân nhiều nơi như: Hưng Yên, Hà Nội, Hải Dương, Ninh Bình, Thái Bình, Nam Định... tôn thờ. Các nơi thờ tập trung nhiều nhất ở khu vực đạo Hải Đông xưa, tức vùng Đông Bắc Việt Nam ngày nay, vốn gắn bó nhiều với cuộc đời và sự nghiệp của ông3.

c) Thế lực hào trưởng Hải Dương giúp Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước Trong quá trình thu phục 12 sứ quân, thống nhất đất nước, Đinh Bộ Lĩnh đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ và tin theo của đông đảo các tầng lớp nhân dân trong cả nước. Hải Dương là một trong những vùng đất có nhiều đóng góp trong công cuộc thống nhất đất nước của Đinh Bộ Lĩnh. Trong số lực lượng

1. Có tài liệu dân gian cho là Phạm Bạch Hổ được phong chức Phòng Át tướng quân trấn giữ vùng Hải Đông bao gồm Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Ninh ngày nay.

2. Xem Lã Đăng Bật: Nhân vật lịch sử kinh đô Hoa Lư (968 - 1010), Nxb. Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2016, tr.136-137.

3. Về ngày hóa của Phạm Bạch Hổ, truyền thuyết địa phương kể rằng: Tương truyền, vào ngày rằm tháng Một, có một đám mây vàng sà xuống dinh Bạch Hổ. Ông theo mây vàng mà bay đi vào ngày 16 tháng Một. Dân Đằng Châu nhớ ơn công đức, tôn ông là Vua Mây và xây miếu thờ ông gọi là Đền Mây.

ủng hộ Đinh Bộ Lĩnh, có nhiều hào trưởng ở Hải Dương được nhân dân các địa phương tôn thờ đến ngày nay:

Phạm Hạp:

Phạm Hạp là người Trà Hương (nay là thôn Thụy Trà, xã Nam Trung, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Ông sinh ra trong một gia đình dòng dõi thế gia: ông nội là Phạm Lệnh Công (Phạm Chiêm) từng giữ chức Đông giáp tướng quân thời Ngô Quyền và là người đã có công che chở, giúp đỡ Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập; cha là Phạm Man làm đến chức Tham chính đô đốc thời Nam Tấn vương1, em trai là Phạm Cự Lạng - một danh tướng thời Đinh - Lê.

Phạm Hạp từ nhỏ đã tỏ rõ tư chất thông minh, có chí lớn, văn võ toàn tài. Ông thường cùng em trai là Phạm Cự Lạng đem tiền của chiêu dụ tướng sĩ, mua ngựa luyện quân. Khi Đinh Bộ Lĩnh dấy binh đánh dẹp 12 sứ quân, Phạm Hạp cùng em trai đem người, ngựa từ Trà Hương vào Hoa Lư phò Đinh Bộ Lĩnh2. Đinh Bộ Lĩnh đã thu nhận và đều phong hai anh em ông làm tướng tiên phong. Trong quá trình phò giúp Đinh Bộ Lĩnh, Phạm Hạp đã lập được nhiều công lớn3. Vì vậy, sau khi thống nhất đất nước, lên ngôi hoàng đế, Đinh Tiên Hoàng đã phong cho ông làm Vệ úy4.

Trong thời gian làm quan dưới triều Đinh, Phạm Hạp một lòng trung thành phò tá triều đình và cũng nhiều lần dẫn quân đi đánh dẹp những nơi bất ổn. Năm Kỷ Mão (979), Đinh Tiên Hoàng bị viên Chi hậu nội nhân Đỗ Thích sát hại, triều thần đưa Vệ vương Đinh Toàn lên nối ngôi khi mới 6 tuổi.

Vua còn nhỏ, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn làm Nhiếp chính xưng là Phó vương. Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp là những đại thần triều Đinh cho là Lê Hoàn sẽ làm bất lợi cho Đinh Toàn nên cùng nhau dấy binh tiến đánh Lê Hoàn. Sự việc không thành, Đinh Điền bị giết chết tại trận, Nguyễn Bặc bị Lê Hoàn bắt, đóng cũi đưa về Hoa Lư xử tử. “Quân của Phạm Hạp mất

1. Xem Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí, Sđd, t.III, tr.436-437.

2. Một số truyền thuyết cho biết số quân của Phạm Hạp và Phạm Cự Lạng gia nhập đội quân của Đinh Bộ Lĩnh lên đến 2.000 người.

3. Thần tích đình Hướng Nghĩa, xã Minh Thuận, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định cho rằng Phạm Hạp chính là người đánh bại và chém chết sứ quân Nguyễn Khoan ở Tam Đái.

4. Xem Ngô Thì Sĩ: Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, tr.162.

tinh thần, chạy lên Bắc Giang; Lê Hoàn đem quân đuổi theo, bắt đưa về kinh đô, giết chết”1.

Nhìn vào cuộc đời, sự nghiệp của Phạm Hạp cho thấy: ông là người kiên định ý chí, toàn tâm toàn ý phò giúp họ Đinh trong cả quá trình thống nhất đất nước và việc xây dựng chính quyền nhà nước quân chủ độc lập của nhà Đinh.

Phạm Cự Lạng:

Phạm Cự Lạng là em trai Phạm Hạp. Ông sinh ra, lớn lên, cùng học tập và luyện võ nghệ cùng anh trai mình. Khi đất nước gặp biến loạn, ông đã cùng với Phạm Hạp đem quân vào phò tá Đinh Bộ Lĩnh.

Dưới triều Đinh, anh em họ Phạm ra sức giúp rập triều đình, lập nhiều công lớn. Phạm Hạp và Phạm Cự Lạng được Đinh Tiên Hoàng giao cho trấn giữ vùng cửa biển Đại Ác (tức cửa Đại Nha, nay thuộc huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định). Hai anh em ông đã hoàn thành xuất sắc công việc và được nhân dân tin yêu2. Tuy nhiên, sau biến cố năm Kỷ Mão (979), trong khi Phạm Hạp ra sức can ngăn, phản đối Lê Hoàn thì Phạm Cự Lạng lại là người ủng hộ Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế thay cho Đinh Toàn còn quá nhỏ chưa lo được việc nước. Sự việc trên đã dẫn đến hậu quả là Đinh Điền, Nguyễn Bặc và Phạm Hạp đều bị Lê Hoàn trừ bỏ. Trong khi đó, Phạm Cự Lạng vẫn là một đại thần tin cẩn của Lê Hoàn.

Dưới triều Tiền Lê, Phạm Cự Lạng tiếp tục lập được nhiều công lao to lớn. Ông đã góp mặt trong nhiều trận chiến đấu chống quân xâm lược Tống lần thứ nhất: từ trận Bạch Đằng (981) đến các trận Chi Lăng, Tây Kết và cả những cuộc hành quân đi đánh Chiêm Thành. Năm 986, ông được vua Lê Hoàn phong chức Thái úy3.

Bên cạnh đóng góp của anh em Phạm Hạp, Phạm Cự Lạng, ở Hải Dương còn nhiều nhân vật có đóng góp cho công cuộc thống nhất đất nước của Đinh Bộ Lĩnh. Những nhân vật này, sau khi qua đời họ đều được nhân dân tôn kính lập đền thờ và tôn làm thành hoàng làng. Thống kê trên địa bàn

1, 3. Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.1, tr.245, 255.

2. Xem Đinh Thị Thùy Hiên - Đinh Thị Hải Đường: “Vài nét về Phạm Hạp và Phạm Cự Lạng”, in trong Kỷ yếu hội thảo khoa học: Vai trò của nhà nước Đại Cồ Việt trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2018, tr.441-458.

tỉnh Hải Dương hiện nay cho thấy: trong công cuộc thống nhất đất nước của Đinh Bộ Lĩnh, vùng đất Hải Dương đã có tổng cộng 24 tướng lĩnh tham gia. Ở Hải Dương hiện nay cũng còn 23 di tích và cụm di tích thờ phụng Đinh Tiên Hoàng và các tướng lĩnh có quê Hải Dương hoặc có thời gian hoạt động trên đất Hải Dương.

Bảng 1.1: Danh sách di tích thờ Đinh Tiên Hoàng và các vị tướng của ông trên địa bàn tỉnh Hải Dương

STT Tên di tích Nhân vật được thờ Nơi thờ

1 Đình Bình An Hùng Lĩnh Tráng Trần Xã Tân Việt,

huyện Bình Giang

2 Đình Chanh Trong Khang Công Xã Thúc Kháng,

huyện Bình Giang

3 Đình Bằng Trai Trình An Tể Xã Vĩnh Hồng,

huyện Bình Giang

4 Đình Nhân Kiệt Đinh Điền Xã Hùng Thắng,

huyện Bình Giang

5 Đình Bình Cách Trần Công tướng Xã Bình Xuyên,

huyện Bình Giang

6 Đình Hồ Liễn Phạm Huyền Thông xã Vĩnh Hưng,

huyện Bình Giang

7 Đình Đỗ Lâm Hạ Lý Trí Thắng Xã Phạm Kha,

huyện Thanh Miện

8 Đền Từ Ô Lý Uy (Oai), Lý Hồng Nương

và Lý Võ

Xã Tân Trào, huyện Thanh Miện

9 Đình Đỗ Lâm Thượng Lý Trí Thắng Xã Phạm Kha,

huyện Thanh Miện

10 Đình Bằng Bộ Cao Minh,

hiệu là Viên Thông chiêu cảm

Xã Cao Thắng, huyện Thanh Miện 11 Đình Thiệu Mỹ Đặng Chân, Trịnh Thị Khang

và Đặng Trí

Xã Vĩnh Lập, huyện Thanh Hà 12 Miếu Thánh Cả Đặng Châm, Trịnh Thị Khang,

Đặng Trí

Xã Thanh Bình, huyện Thanh Hà 13 Đền Từ Hạ

(đền Thánh Cả)

Đặng Châm, Đặng Trí Xã Thanh Bình, huyện Thanh Hà

14 Đình thôn Kỳ Tây Hoàng Uy Công,

Hoàng Trung Công, Hoàng Chí Công

Xã Cẩm Chế, huyện Thanh Hà

STT Tên di tích Nhân vật được thờ Nơi thờ 15 Đình Phương La Hoàng Uy Công, Hoàng Trung Công,

Hoàng Chí Công

Xã Cẩm Chế, huyện Thanh Hà 16 Đình Kim Đôi Thờ Pháp Vân, Pháp Lôi và

Pháp Điện, là ba trong bốn vị thần của tục thờ Tứ pháp, một tín ngưỡng thờ siêu lực tự nhiên của người Việt cổ

cầu mong mưa thuận, gió hòa trong sản xuất nông nghiệp

Xã Cẩm Hoàng, huyện Cẩm Giàng

17 Đình Đông Quan Trung Liệt Đại vương, Viên Dương Đại vương, Thanh Độ Đại vương và Tả tướng Hoàng Tuy Công

Đại vương

Xã Tân Hưng, huyện Gia Lộc

18 Miếu An Cư Lộc Lê Viết Bao Xã Quang Minh,

huyện Gia Lộc

19 Miếu Rồng Đào Ngọc Sâm Xã Nhật Tân,

huyện Gia Lộc

20 Miếu Phú Nội Đặng Sỹ Nghị,

Đặng Sỹ Phan, Đặng Sỹ Lẫm

Xã Bình Dân, huyện Kim Thành

21 Đình Ngọc Uyên Lê Viết Hưng,

Lê Viết Quang

Phường Ngọc Châu, thành phố Hải Dương 22 Đình Thụy Trà, chùa Thụy Trà,

miếu Thụy Trà

Phạm Công Hòa Xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách

23 Đình Dậu Trì Trần Minh Công Xã Hồng Thái,

huyện Ninh Giang Nguồn: Số liệu tổng hợp từ các hồ sơ di tích lưu tại Bảo tàng tỉnh Hải Dương và tư liệu điền dã của nhóm tác giả.

Một phần của tài liệu LICH SU HAI DUONG tap 2 (Trang 47 - 53)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(516 trang)