THỜI HỌ KHÚC, NGÔ, ĐINH, TIỀN LÊ
IV- KHÁNG CHIẾN CHỐNG NGOẠI XÂM
3. Nhân dân Hải Dương với cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất năm Tân Tỵ (981)
Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Tống dưới thời vua Lê Đại Hành năm Tân Tỵ (981) là một trong những chiến công hiển hách bậc nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Trận quyết chiến chiến lược xảy ra trên sông Bạch Đằng ngày Kỷ Mùi tháng Ba năm Tân Tỵ (ngày 28/4/981) do đích thân Lê Đại Hành chỉ huy đã đánh tan đội quân chủ lực của giặc Tống, giết tướng giặc Hầu Nhân Bảo tại trận, đánh bại ý chí xâm lược của giặc phương Bắc, khiến chúng phải bó giáo, cuốn cờ rút về nước. Sử sách của ta và Trung Quốc đều chép về trận quyết chiến chiến lược quan trọng này.
Sách Việt sử lược, tác giả khuyết danh thời Trần thế kỷ XIV, chép: Năm Tân Tỵ, năm đầu hiệu Thiên Phúc, mùa xuân, tháng Ba (tháng 4/981), quân của Hầu Nhân Bảo đến Lãng Sơn, Trần Khâm Tộ đến Tây Kết, Lưu Trừng đến sông Bạch Đằng. Vua (tức Lê Đại Hành) tự làm tướng đi chống Tống, sai người cắm cọc ngăn sông. Quân Tống lui giữ Ninh Giang. Vua sai trá hàng để dụ Nhân Bảo. Quân Tống thua, ta bắt chém được Nhân Bảo. Bọn Khâm Tộ nghe tin quân thua, liền rút lui1.
Sách Tống sử (Giao Chỉ truyện) của Trung Quốc cũng chép về trận Bạch Đằng như sau: Thái Bình hưng quốc năm thứ sáu, tháng Ba, ngày Kỷ Mùi (ngày 28/4/981) Giao Châu hành doanh phá được 1.500 quân của Lê Hoàn ở sông Bạch Đằng... Đến khi Lưu Trừng đến thì Toàn Hưng cùng Lưu Trừng theo đường thủy đem quân đến thôn Đa La, nhưng nói không gặp giặc (tức quân chủ lực do Lê Đại Hành chỉ huy), lại trở về Hoa Bộ. Đến đây, Lê Hoàn giả vờ xin hàng để đánh lừa Nhân Bảo. Nhân Bảo liền bị giết chết.
Những nghiên cứu gần đây cho biết địa điểm Đồng Dinh bên cạnh khu di tích Đền Cao2, chính là khu vực đóng đại bản doanh của vua Lê Đại Hành trong cuộc quyết chiến chiến lược trên sông Bạch Đằng xưa3. Trên thực địa
1. Xem Tác giả khuyết danh đời Trần thế kỷ XIV: Việt sử lược, Sđd, tr.61.
2. Xem Nguyễn Minh Tường: “Về vị trí đặt đại bản doanh của vua Lê Đại Hành trong trận Bạch Đằng năm 981”, tạp chí Xưa & Nay, số 76, tháng 6/2000, tr.9, 10, 23.
3. Từ năm 1987, trên báo Quân đội nhân dân, tác giả Tăng Bá Hoành đã có ý kiến về đại bản doanh An Lạc sau khi nghiên cứu về Thần tích Đền Cao thờ 5 anh em họ Vương đã theo Lê Hoàn đánh quân Tống. Sau này, vấn đề nghiên cứu về đại bản doanh của Lê Hoàn trong kháng chiến chống Tống mới được triển khai quy mô hơn.
“Đồng Dinh” là một cánh đồng bằng phẳng rộng chừng hơn 3ha. Đây là một điểm đóng quân khá lý tưởng, vì ba phía bắc, đông, nam đều có núi, có sông che chở, còn phía tây mở ra một hành lang rộng rãi, khiến cho “tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ” (tiến có thể đánh, lui có thể giữ). Nơi mà vua Lê Đại Hành chọn để đóng đại bản doanh nói trên rõ ràng đáp ứng những điều kiện tối cần thiết của một nơi đóng quân mà các bộ binh thư cổ của phương Đông chỉ dẫn. Sách Tôn Tử binh pháp có viết: “Phàm bố trí quân đội phải chiếm lĩnh vùng núi non, cần chọn những nơi cao hướng về mặt trời, cần dựa lưng vào mỏm đá cao chứ không đối diện với mỏm đá cao. Đó là nguyên tắc đóng quân ở vùng núi”. Ngay trong thiên “Đồn trú” sách Binh thư yếu lược cũng viết: “Phàm đóng quân thì phải dùng nơi sau cao, trước thấp, trông ra hướng sáng, quay lưng hướng tối, nuôi sống ở đủ, nước lửa không lo, vận tải tiếp tế không trở ngại, tiến có thể đánh, lui có thể giữ...”.
Nghiên cứu nơi đóng quân đại bản doanh của vua Lê Đại Hành, chúng ta thấy nó “dựa lưng vào mỏm núi cao” là các ngọn Bàn Cung, Thiên Bồng, Đầu Giông, Cổ Vu và “trông ra hướng sáng” là hướng nam, phía xa có dòng Nguyệt Giang trong xanh, thoáng đãng. Che chắn phía đông cho đại bản doanh là các ngọn núi như: Đồng Đò, Vọng Dứa, Đồng Ra và Cao Hiệu. Tất cả những núi non, gò đồi bao bọc ấy lại được dòng Nguyệt Giang và chi lưu của nó che chắn thêm, khiến cho đại bản doanh của vua Lê Đại Hành có khả năng án binh, giấu quân làm cho quân Tống không thể tìm thấy được. Điều đó giải thích câu văn được chép trong Tống sử vừa nói ở trên: “Toàn Hưng cùng Lưu Trừng theo đường thủy đem quân đến thôn Đa La, nhưng nói không gặp giặc” (tức chủ quân và đại bản doanh của quân ta).
Đại bản doanh của Lê Đại Hành ở xã An Lạc, nếu đi theo đường thủy xuôi dòng Nguyệt Giang ra sông Kinh Thầy để đến Bạch Đằng ước chừng 30km1. Còn tính theo đường chim bay từ An Lạc đến Bạch Đằng chỉ khoảng trên 20km. Đây là địa bàn đặt sở chỉ huy, có thể nói khá đắc địa trong điều kiện của cuộc chiến tranh dưới thời Trung cổ, cả hai bên tham chiến đều sử dụng vũ khí và phương tiện vận chuyển còn thô sơ.
1. Tên gọi sông Kinh Thầy xuất hiện từ thế kỷ XIX, trước đây còn gọi là sông Cổ Châu.
Đồng Dinh (như tên gọi của nó) không phải là một di tích tồn tại đơn nhất, độc lập. Nó được nằm trong một quần thể di tích lịch sử làm chứng cứ khẳng định thêm cho vị trí đại bản doanh của vua Lê Đại Hành.
Phường An Lạc cùng với phường Tân Dân thuộc thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương có vinh dự lưu giữ và bảo tồn những chứng tích quý giá đó. Ở đây, những chứng tích liên quan tới đại bản doanh của vua Lê Đại Hành có thể chia làm hai loại: những địa danh lịch sử và các di tích đền, miếu, chùa...
Về những địa danh lịch sử của phường An Lạc và phường Tân Dân, hiện nay còn khá nhiều tên gọi liên quan trực tiếp hoặc gợi lên những suy nghĩ về một địa bàn đóng sở chỉ huy khá lâu của một vị hoàng đế thân chinh đánh giặc.
Đó là núi Cao Hiệu: núi sát với bến Vạn, bên dòng Nguyệt Giang đổ ra sông Kinh Thầy, tương truyền là nơi cắm cờ và vọng gác tiền tiêu. Đồng Dinh: là nơi đặt đại bản doanh của vua Lê Đại Hành. Nội Xưởng: tương truyền là nơi rèn, sửa vũ khí và phương tiện chiến đấu. Lò Văn: nơi một số viên quan từ hàn đi theo quân đội phụ trách việc văn thư làm việc. Bàn Cung: nơi tương truyền vua Lê Đại Hành họp bàn việc quân với các tướng lĩnh dưới quyền. Nền Bà Chúa: nơi ở của các vị nữ tướng. Núi Sơn Đụn: nơi tương truyền là kho quân lương của quân đội...
Về các di tích đền, miếu, đình, chùa thì ở phường An Lạc có thể nói là khá nhiều như: đền Cao, đền Bến Tràng, đền Bến Cả, chùa Nguyệt, chùa Sơn Đụn... Có một điều đáng lưu ý là hầu hết các ngôi đền nói trên đều thờ các vị tướng tham gia cuộc kháng chiến chống Tống năm Tân Tỵ (981) do vua Lê Đại Hành lãnh đạo. Trong số các di tích lịch sử đó, đáng chú ý hơn cả là khu đền Cao.
Đền Cao được xây dựng trên ngọn Thiên Bồng, có độ cao 47m so với mặt nước biển. Đền tọa lạc trên bãi đất bằng phẳng rộng ước chừng 5.414m2. Cảnh đền Cao trên núi Thiên Bồng luôn gợi cho du khách một cảm giác u tịch, thanh vắng. Phải chăng chính vì vậy, núi được đặt tên với ý nghĩa “cảnh bồng lai trên thiên giới”? Phủ kín quả núi và xung quanh đền Cao là 54 cây lim cổ, tuổi ước cũng vài trăm năm, càng tôn thêm vẻ tịch mịch của chốn danh thắng được mệnh danh là nơi tách khỏi bụi trần này.
Bản ngọc phả hiện còn lưu giữ tại đền Cao do Nguyễn Bính soạn vào năm Hồng Phúc nguyên niên (1572) và được vị Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh Nguyễn Hiền giữ chức Quản giám bách thần sao lại vào năm Vĩnh Hựu thứ 3 (1737)
cho biết: Vị thần được thờ ở đây họ Vương, húy là Đức Minh. Cũng theo ngọc phả, trong cuộc kháng chiến chống Tống vào mùa xuân năm Tân Tỵ (981), vua Lê Đại Hành đã đem quân về lập đại bản doanh tại An Lạc. Bấy giờ, An Lạc còn có tên là Dược Đậu trang thuộc huyện Bàng Châu, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương. Ở Dược Đậu trang có 5 anh em họ Vương tham gia quân đội đánh giặc, cứu nước. Sau khi dẹp xong giặc Tống tàn bạo, người anh cả là Vương Đức Minh được phong làm Thiên Bồng Đại tướng quân đại vương, người thứ hai là Vương Đức Xuân làm Dực Thánh Dũng mãnh đại vương, người thứ ba là Vương Đức Hồng làm Anh Vũ Dũng lược đại vương, người em gái thứ tư là Vương Thị Đào làm Đào Hoa Trinh Thuận công chúa, và người thứ năm là Vương Thị Liệu làm Liễu Hoa Linh Ứng công chúa.
Người anh cả là Vương Đức Minh được thờ tại đền Cao, còn các em trai, em gái của ông được thờ ở các đền như: đền Bến Tràng, đền Bến Cả, đền Cả...
Trong đền còn treo 13 bộ câu đối gỗ sơn son thếp vàng, nội dung phần lớn nói lên tấm lòng ngưỡng mộ của khách thập phương đối với tướng Vương Đức Minh “sinh vi tướng, tử vi thần” được thờ ở đền. Các câu đối ở đền Cao ca ngợi khí thế hào hùng của quân đội thời Tiền Lê dưới sự chỉ huy của vua Lê Đại Hành và các danh tướng của ông.
Theo tấm bia Thần tích bi ký lưu truyền vạn đại lập năm Tự Đức thứ 22 (1869) lưu tại chùa Văn Xá (nay thuộc phường Ái Quốc, thành phố Hải Dương) thì đình Văn Xá (cùng địa bàn) thờ ông Vũ Động, một trong ba anh em họ Vũ (Vũ Hoàng, Vũ Huệ và Vũ Động). Khi quân Tống xâm lược nước ta, vua Lê Đại Hành cho tổ chức kỳ thi chọn tướng sĩ, ba anh em họ Vũ đã đến dự tuyển và trúng tuyển, được vua ban áo theo màu sắc riêng. Vũ Hoàng được ban áo màu xanh, Vũ Huệ được ban áo màu vàng, còn Vũ Động được ban áo màu đỏ và cho cầm quân đánh giặc. Sau khi chiến thắng trở về, ba anh em được vua ban thưởng vàng bạc lụa là, cho phép 3 năm một lần được về thăm quê hương bản quán1. Ba anh em họ Vũ còn được thờ tại đình Vũ Xá (huyện Nam Sách).
Theo thần tích tại đây, bảy người bản trang đi theo ba vị đánh giặc cũng được nhân dân thờ phụng2.
1, 2. Xem Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hải Dương: Hải Dương: Di tích và danh thắng, Sđd, t.II, tr.11, 39.
Ngoài các di tích tại đại bản doanh của Lê Đại Hành, còn nhiều di tích thờ ông và các vị tướng của ông như: đền thờ vua Lê Đại Hành ở xã Liên Mạc, huyện Thanh Hà; đình Kiên Lao (xã Đại Đức, huyện Kim Thành) thờ hai tướng Đào Công Chiêu và Đào Công Hiển đều giúp vua Lê Đại Hành đánh quân Tống...
Theo bản khai thần tích - thần sắc năm 1936 của làng Lai Cầu, xã Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc cho biết: Miếu Lai Cầu là nơi thờ bà Nguyễn Thị Dực, húy là Vàng Chinh, người từng có công đánh giặc Tống thế kỷ X. Nghe lời kêu gọi đánh giặc của vua Lê Đại Hành, Nguyễn Thị Dực đã cải trang thành nam nhi, triệu tập nghĩa quân, xin vua cho đi đánh giặc. Bà đã cầm quân và đánh thắng nhiều trận. Sau khi đánh thắng quân Tống, bà và các tướng quân được vua mời về triều khao thưởng. Trong buổi lễ, vua Lê biết bà là nữ nhi, đã không trách phạt còn rất cảm kích trước khí tiết của người phụ nữ nơi thôn dã, có lòng trung quân ái quốc. Vua ban thưởng và cho về quê thăm cha mẹ. Về quê một thời gian ngắn thì bà qua đời. Vua Lê Đại Hành rất thương tiếc, ban cho vàng bạc, tổ chức tang lễ, sắc cho dân làng lập miếu thờ và phong bà là Thành hoàng làng Lai Cầu để đời đời hương hỏa1.
Theo thần phả tại đình Kiên Lao, xã Đại Đức, huyện Kim Thành, có hai người: Đào Công Chiêu và Đào Công Hiển cùng nhau kết bạn. Nghe theo chiếu truyền tìm người tài giỏi cứu nước, cứu dân của vua Lê Đại Hành, hai ông chiêu nạp binh sĩ ở trang Cổ Pháp (huyện Phụ Phong, phủ Thái Bình, trấn Sơn Nam), rồi lên đường vào Hoa Lư yết kiến vua, được nhà vua phong làm Đại tướng quân. Vua Lê Đại Hành cử hai ông đem quân đi chặn các cửa biển phía đông nam. Hai ông đem quân thủy bộ rầm rầm tiến tới, đến địa phận trang Kiên Lao, quận Trà Hương thì trời xế chiều, hai ông cho quân lính hạ trại. Nhân dân Kiên Lao cũng xin góp sức lập phòng tuyến cùng binh sĩ.
Sau, hai ông tham gia cùng đại quân do vua Lê Đại Hành thân chinh đánh giặc Tống và hy sinh. Vua phong cho Đào Công Chiêu là Hộ quốc cư sĩ linh ứng Đại vương, lại tặng phong Hộ quốc cư sĩ quý ban thông minh anh nghị cương đạo hùng tài vĩ lược Đại vương2.
1. Xem Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hải Dương: Hải Dương: Di tích và danh thắng, Sđd, t.II, tr.91.
2. Xem Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Hải Dương: Hải Dương: Di tích và danh thắng, Sđd, t.I, tr.224-225.
Ông Phạm Ân, người trang Lâu Động (nay thuộc xã Quang Thành, thị xã Kinh Môn) là người có công giúp vua Lê Đại Hành kháng chiến chống Tống.
Sau khi hạ đại bản doanh tại khu vực An Lạc (Chí Linh), vua Lê Đại Hành lấy khu vực thuộc xã Quang Thành ngày nay làm tiền tiêu của đại bản doanh1.
Bản khai thần tích - thần sắc làng Nứa2 (nay thuộc xã Hồng Khê, huyện Bình Giang) cho biết: Đình Trinh Nữ là nơi thờ Hoằng Công Nguyễn Uy - một trong năm vị thánh Ngũ Lôi có công giúp vua Lê Đại Hành dẹp giặc Tống cuối thế kỷ X.
Thần tích, bia ký và truyền thuyết lưu truyền trong nhân dân làng Rồng (nay thuộc thôn Cao Duệ, xã Nhật Tân, huyện Gia Lộc) cho biết: Miếu Rồng thờ Đào Ngọc Sâm, người có công giúp Đinh Bộ Lĩnh chinh phục các sứ quân, thống nhất đất nước và giúp Lê Hoàn đánh giặc Tống3.
Những chiếc cọc trong bãi cọc Kinh Môn đang được lưu giữ tại chùa Nhẫm Dương
Nguồn: Trần Anh Dũng
1, 2, 3. Xem Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hải Dương: Hải Dương: Di tích và danh thắng, Sđd, t.II, tr.193-194, 305, 355-356.
Theo Trịnh Sinh1, năm 2014 và năm 2017, các nhà khảo cổ học đã phát hiện thêm bãi cọc Kinh Môn, tỉnh Hải Dương hé mở nhiều bí ẩn về lịch sử chống ngoại xâm của tổ tiên ta2.
Bãi cọc này được nhân dân thôn Nghĩa Lộ, xã Hoành Sơn (nay thuộc thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương) đào ao thả cá ở cánh đồng Cầu Thủ, đã phát hiện vào năm 2014 và được các nhà khảo cổ học khai quật cuối năm 2017.
Những chiếc cọc này có chiều dài khoảng 3m, đường kính khoảng 30cm, được vát nhọn hai đầu, một đầu cắm xuống đất. Hiện, một số cọc còn để tạm ở chùa Nhẫm Dương gần nơi phát hiện, trước khi đem về Bảo tàng tỉnh Hải Dương.
Con đường xâm lược và chống xâm lược từ biển vào Thăng Long
Nguồn: Trịnh Sinh
1. Trịnh Sinh: “Hé lộ những bí ẩn từ bãi cọc Kinh Môn”, http://www.bienphong.com.
vn/he-lo-nhung-bi-an-tu-bai-coc-kinh-mon/.
2. Có ý kiến cho rằng, bãi cọc này liên quan đến cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên thế kỷ XIII. Vấn đề này cần có thời gian xác minh, lý giải.
Trong lịch sử quân sự nước ta có nghệ thuật đánh giặc bằng cọc. Trong sách binh thư thời Nguyễn còn dạy cách làm cọc cắm xuống sông như sau:
“Cơ giữ nước tất lấy sông lớn làm hiểm. Song có sông lớn mà không chuẩn bị thì giữ thế nào? Cho nên đóng cọc dưới lòng sông để ngăn bắt thuyền giặc, công hiệu gấp mười xích sắt chắn sông. Nên sai ba quân chuẩn bị cột gỗ độ 200 cái cũng được, đem đến cửa sông cắm xuống nước, xa gần so le, dài ngắn không đều, hình như răng chó cài nhau, để ngầm dưới mặt nước không để lộ ra. Thuyền giặc tiến đến thì tất bị cọc gỗ ngăn trở, dù thuyền nhẹ buồm căng gió tốt, ra sức mà chèo, cũng không đi được một bước”.
Theo các nhà khoa học, mực nước sông lúc đỉnh và lúc thấp nhất của con nước chênh nhau lên tới 2,5 - 3,2m. Chỉ cần dụ địch vào lúc thủy triều lên cao nhất, khi thuyền to cũng vượt qua được cọc ngầm, thì lúc thủy triều xuống, tập trung quân thủy, bộ chặn giặc, phản công, giặc sẽ không còn đường rút, bãi cọc phơi ra, thuyền giặc bị đâm thủng, bị xô nghiêng, quân giặc hốt hoảng, lo sợ, quân ta dễ dàng tiêu diệt.
Hơn 40 năm sau chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền năm Mậu Tuất (938), sông Bạch Đằng lại được vua Lê Đại Hành sai quân cắm cọc để ngăn quân Tống xâm lược. Tướng nhà Tống là Lưu Trừng kéo vào sông Bạch Đằng để tiến sâu vào đồng bằng Bắc Bộ theo con đường sông quen thuộc mà các nhà viết sử đặt tên là “con đường xâm lược” từ sông Bạch Đằng qua sông Kinh Thầy vào Lục Đầu Giang, sông Đuống để vào thành Đại La - Tống Bình, tức Hà Nội ngày nay.
Như vậy, trận đại chiến tại Bạch Đằng năm Tân Tỵ (981) của vua Lê Đại Hành lại là một chiến công rực rỡ nữa của dân tộc Việt Nam, mà trong đó có sự đóng góp xứng đáng của quân và dân đất Hồng Châu. Những di tích liên quan tới vua Lê Đại Hành như: nơi đóng đại bản doanh và chiến tích của các tướng lĩnh xung quanh địa điểm tiêu diệt giặc tại các huyện, thành phố Thanh Hà, Kim Thành, Nam Sách, Chí Linh cùng ba huyện Kiến Thụy, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo (nay thuộc thành phố Hải Phòng) chứng tỏ sự đóng góp nhân tài, vật lực của nhân dân địa phương là rất lớn, trong đó Hải Dương là chiến địa có đủ ba yếu tố: thiên thời, địa lợi, nhân hòa ở thời điểm diễn ra trận Bạch Đằng oanh liệt năm 9811. Đóng góp của nhân dân Hải Dương vào chiến trường là rất lớn và có ý nghĩa quyết định.
1. Xem Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương: Địa chí Hải Dương, Sđd, t.II, tr.37.