Hải Dương với cuộc kháng chiến chống quân Minh của nhà Hồ

Một phần của tài liệu LICH SU HAI DUONG tap 2 (Trang 191 - 197)

TỪ THỜI HỒ ĐẾN THỜI LÊ SƠ

III- HẢI DƯƠNG TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MINH

1. Hải Dương với cuộc kháng chiến chống quân Minh của nhà Hồ

Giữa lúc đất nước đang trải qua những biến động sâu sắc - nhà Trần suy yếu rồi sụp đổ, nhà Hồ mới thành lập đang gặp nhiều khó khăn trong việc khôi phục lại kinh tế đất nước, thì nhà Minh1 đã lợi dụng thời cơ tiến hành xâm lược nước ta.

Để đối phó với âm mưu xâm lược của quân Minh, nhà Hồ tích cực chuẩn bị kháng chiến bảo vệ đất nước. Nhà Hồ đã tăng cường quốc phòng, tuyển mộ binh lính, đóng thuyền, đúc vũ khí, xây dựng phòng tuyến dọc theo bờ nam sông Đà và sông Nhị từ núi Tản Viên (thuộc huyện Ba Vì, Hà Nội ngày nay) cho đến cửa sông Ninh (huyện Mỹ Lộc, Nam Định ngày nay), lấy thành Đa Bang (Ba Vì) và thành Đông Đô (Hà Nội) làm căn cứ chính. Tuy nhiên, cuộc kháng chiến do nhà Hồ lãnh đạo đã nhanh chóng bị thất bại. Ngày 9 tháng Mười năm Bính Tuất (ngày 19/11/1406), hàng chục vạn quân Minh do tướng Trương Phụ cầm đầu đã vượt biên tiến vào lãnh thổ nước ta. Sau một vài trận đánh, quân nhà Hồ phải lui về giữ phòng tuyến ở nam ngạn sông Đà và sông Nhị. Sau đó, thành Đa Bang thất thủ và phòng tuyến chính bị phá vỡ. Từ đó, quân đội nhà Hồ phải lui dần và tháng Sáu năm Đinh Hợi (1407) thì cuộc

1. Nhà Minh là một triều đại phong kiến ở Trung Quốc do Chu Nguyên Chương thành lập năm Mậu Thân (1368) trên cơ sở thắng lợi của phong trào nông dân Trung Quốc. Đến đời Minh Thành Tổ (1402 - 1424), nhà Minh đạt đến giai đoạn cường thịnh nhất và đồng thời có khuynh hướng bành trướng thế lực ra nước ngoài.

kháng chiến hoàn toàn thất bại. Cha con Hồ Quý Ly cùng nhiều tướng lĩnh, quan lại triều Hồ bị quân Minh bắt giải về Kim Lăng (Trung Quốc).

Trước khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bùng nổ, trên cả nước đã diễn ra các phong trào đấu tranh vũ trang rộng rãi trong nhân dân ở nhiều địa phương như Lạng Sơn, Hồng Lộ, Sơn Tây, Nghệ An, Thanh Hóa..., trong đó tiêu biểu nhất là các cuộc đấu tranh của nhân dân dưới sự lãnh đạo của quý tộc tôn thất nhà Trần. Cuối năm Đinh Hợi (1407) đầu năm Mậu Tý (1408), ở Đồng Lợi, châu Hạ Hồng (huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương ngày nay) có cuộc đấu tranh do Trần Nguyên Tôn, Nguyễn Nhật Tân lãnh đạo.

Trong cuộc kháng chiến do hai vua nhà Hậu Trần lãnh đạo là Giản Định đế (Trần Ngỗi) và Trùng Quang đế (Trần Quý Khoáng), Hải Dương từng là chiến trường, căn cứ của nghĩa quân.

Đến tháng Tư năm Kỷ Sửu (1409), Giản Định đế đã hợp quân với Trùng Quang đế cùng chung sức đánh giặc. Trần Ngỗi tiếp tục tiến đánh miền Hạ Hồng (gồm các huyện Gia Lộc, Thanh Miện, Tứ Kỳ, Ninh Giang ngày nay).

Tháng Bảy năm Kỷ Sửu (1409), nghĩa quân đến đóng ở Bình Than, hào kiệt khắp nơi nghe hai vua xuất quân cũng đua nhau theo về, thanh thế của nghĩa quân ngày càng lớn mạnh. Trận này, viên quan phòng thủ của quân Minh là Từ Chính tử trận1.

Triều đình nhà Minh nhận được tin, gấp rút cử Trương Phụ cầm đầu viện binh sang tiếp viện. Sau khi ổn định tình hình ở Đông Quan, Trương Phụ bắt đầu tiến đánh sâu xuống đồng bằng. Ở đây, nghĩa quân của Trần Quý Khoáng vẫn hoạt động mạnh ở lưu vực sông Nhị và sông Thái Bình. Đầu tháng Chín năm Kỷ Sửu (1409), Trương Phụ huy động một lực lượng quân đội khá lớn mở cuộc tiến công vào các căn cứ của nghĩa quân. Nghĩa quân Trần Quý Khoáng đã chiến đấu rất dũng cảm nhưng thế yếu nên thất bại, phải rút lui về Thanh Hóa, Nghệ An. Quân Minh lại lần lượt chiếm lại được các phủ Giao Châu (khu vực Vĩnh Phúc, Hà Nội), Bắc Giang, Lạng Giang (một phần Hải Dương và Bắc Giang), Tân An (một phần Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh), Kiến Xương (một phần Hưng Yên, Thái Bình), Trấn Man (một phần Thái Bình).

1. Xem Minh thực lục: Quan hệ Trung Quốc - Việt Nam thế kỷ XIV - XVII, Nxb. Hà Nội, 2010, t.1, tr.326.

Quân Minh đàn áp đẫm máu nghĩa quân, làm cho phong trào tạm lắng xuống, nhưng chính tội ác của chúng lại khơi sâu thêm lòng căm thù trong nhân dân, thúc đẩy mọi người đứng lên đấu tranh, như: phong trào đấu tranh do Nguyễn Cảnh Dị dẫn đầu ở miền cửa sông Thái Bình; phong trào đấu tranh của thủ lĩnh Thiêm Hữu và Ông Nguyên ở phủ Lạng Giang... buộc Trương Phụ phải cho xây thành Nam Bình ở Bảo Lộc (Lạng Giang), Vĩnh Định (Lục Ngạn), tổ chức thổ binh trấn giữ, đàn áp phong trào trong vùng.

Trong phong trào kháng chiến chống quân Minh đầu thế kỷ XV, cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng là hai cuộc khởi nghĩa lớn nhất, đã tập hợp được một lực lượng kháng chiến khá đông và hoạt động trên một khu vực rộng lớn. Sau khi hai vua nhà Hậu Trần rút lui về Thanh Hóa, Nghệ An, thì ngoài Bắc, nhân dân nhiều nơi vẫn tiếp tục nổi dậy hoạt động mạnh, trong đó, cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Sư Cối là lớn nhất.

Khởi nghĩa Nguyễn Sư Cối diễn ra cuối năm Kỷ Sửu (1409), trên địa bàn xã Nghi Dương, huyện An Lão1, trong khi quân Minh do Trương Phụ và Mộc Thạnh đang chia quân đi càn quét và truy kích nghĩa quân Trần Ngỗi.

Nguyễn Sư Cối tự xưng vương, cùng với Đỗ Nguyên Thố, lãnh đạo hơn 2 vạn nghĩa quân, thường xuyên hoạt động ở vùng cửa sông Hoàng Giang, sông Mã Lạo (đoạn sông Thái Bình chảy qua Hải Dương, Hưng Yên và Hải Phòng). Đến năm Canh Dần (1410), Trương Phụ đem quân thủy, bộ đến vây đánh xã Nghi Dương. Nghĩa quân chiến đấu rất anh dũng, nhưng không chống lại được sức mạnh của quân Minh, trên 4.500 nghĩa quân bị tử trận và trên 2.000 người bị bắt, trong đó có các tướng Phạm Chi, Trần Nguyên Khanh, Trần Nhân Trụ2.

Tháng Hai năm Canh Dần (1410), Trương Phụ rút quân về nước. Tháng Ba, nhà Minh phong cho Mộc Thạnh làm Chinh di tướng quân mang ấn Tổng binh và Trần Húc làm Phó tổng binh, tiếp tục đàn áp phong trào khởi nghĩa của nhân dân ta. Trương Phụ rút quân, làm cho lực lượng quân Minh ở nước ta bị giảm sút. Đây là thời cơ thuận lợi cho nghĩa binh Trùng Quang đế mở rộng hoạt động và nhân dân ở khắp nơi vùng dậy đấu tranh.

1. Nay thuộc thành phố Hải Phòng.

2. Hoàng Minh thực lục, Hiến trưng lục. Dẫn theo Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn:

Khởi nghĩa Lam Sơn, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tr.62.

Đến tháng Năm năm Canh Dần (1410), lợi dụng thời cơ khi Trương Phụ rút quân về nước, Mộc Thạnh tiến quân vào Thanh Hóa, Nghệ An, nghĩa quân tiến ra hoạt động ở vùng Hạ Hồng, đánh phá được quân của Đô đốc Giang Hạo, thừa thắng đuổi theo đến Bình Than, đốt phá hết thuyền trại của quân Minh1. Cuộc khởi nghĩa đang đà thắng lợi, nhưng Trùng Quang đế không có quyết tâm đánh đuổi giặc đến cùng mà chỉ tính đến việc hòa hoãn với quân Minh, do đó đã bỏ lỡ mất thời cơ và tinh thần chiến đấu của quân sĩ. Đến tháng Giêng năm Tân Mão (1411), Trương Phụ đưa quân sang Giao Chỉ cùng với Mộc Thạnh tiến hành đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta.

Trong lúc bị quân Minh truy kích gắt gao, nghĩa quân của các vua nhà Hậu Trần thoát vây được là nhờ các cuộc nổi dậy của nhân dân ở các địa phương khác trong cả nước đồng loạt nổ ra, buộc Trương Phụ phải chia quân ra trấn áp. Tuy nhiên, do các cuộc khởi nghĩa hoạt động đơn lẻ trong từng phạm vi nhỏ hẹp, thiếu sự liên kết với nhau nên không tồn tại được lâu. Đến năm Quý Tỵ (1413), cuộc khởi nghĩa do Trùng Quang đế lãnh đạo đã bị thất bại sau bốn năm hoạt động (1409 - 1413) gây cho quân Minh nhiều tổn thất.

Sau khi khởi nghĩa Trần Quý Khoáng thất bại, Trương Phụ và Mộc Thạnh tiếp tục đàn áp khốc liệt các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta. Trong khoảng từ năm 1414 đến năm 1417, phong trào khởi nghĩa của nhân dân tạm lắng xuống, nhưng ngọn lửa đấu tranh không hề bị dập tắt, vẫn âm ỉ trong tâm can mỗi người dân yêu nước và đây đó có lúc lại bùng lên với những cuộc bạo động lẻ tẻ.

Cuộc khởi nghĩa của Trần Quý Tảm (em Trần Quý Khoáng) tự xưng là Tướng quốc Hoan quốc vương, hoạt động ở vùng Tĩnh An (Quảng Ninh), sau bị bắt ở cửa biển Đa Ngư (tức cửa Vạn Úc).

Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Tống Biệt ở Hạ Hồng và Hoàng Thiêm Hữu ở Giao Châu tiếp tục từ giai đoạn trước, đến đầu năm Ất Mùi (1415) thì bị tan rã.

Cuộc khởi nghĩa do Trần Quý Khoáng lãnh đạo là cuộc khởi nghĩa lớn nhất và kéo dài nhất trong giai đoạn này. Phạm vi hoạt động của nghĩa quân lấy Thanh Hóa, Nghệ An làm trung tâm, đánh vào Nam đến Tân Bình, Thuận Hóa; tiến ra Bắc, đánh quân Minh ở Thiên Trường (Nam Định), Hồng Châu

1. Xem Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.240.

(Hải Dương), Yên Quảng (Quảng Ninh)... Đồng thời, cờ nghĩa của Trần Quý Khoáng cũng đã tập hợp được khá nhiều anh hùng hào kiệt nổi tiếng, từng là quan lại của triều đình trước như Nguyễn Súy, cha con Đặng Dung, Đặng Tất, cha con Nguyễn Cảnh Chân, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Biểu... Cuộc khởi nghĩa cũng đã lập được một bộ máy “đầu não kháng chiến” - tái lập một triều đình nhà Trần, sử chép là nhà Hậu Trần. Nhưng cuối cùng, cuộc khởi nghĩa ấy vẫn bị thất bại.

Sự thất bại trong việc lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống quân Minh của nhà Hồ, cũng như các quý tộc nhà Trần cho thấy sự bất lực của tầng lớp quý tộc, quan lại cũ trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp. Mặc dù tinh thần yêu nước, đấu tranh giải phóng dân tộc của họ rất cao, hành động dũng cảm, kiên quyết, nhưng vẫn không vượt qua được mục đích “chí chủ hữu hoài” (giúp nhà Trần khôi phục triều đại cũ), vì thế, họ không thể đảm đương được trách nhiệm giải phóng dân tộc mà lịch sử đặt ra lúc đó.

Sự thất bại của các cuộc khởi nghĩa có rất nhiều nguyên nhân, trong đó có việc quân Minh còn mạnh, trong khi các cuộc khởi nghĩa của nhân dân Đại Việt chưa có sự gắn kết và chuẩn bị đủ các điều kiện thiết yếu. Quan trọng hơn, phong trào đấu tranh chưa có người lãnh đạo sáng suốt, chưa có định hướng và mục tiêu cụ thể để có thể gắn kết các lực lượng và đi đến thắng lợi cuối cùng. Trong dân chúng vẫn còn nhiều anh hùng hào kiệt lui về ở ẩn, ngấm ngầm xây dựng lực lượng, chờ đợi thời cơ và tìm kiếm minh chủ để đứng lên giành độc lập. Ví dụ, Bùi Quốc Hưng là quan lại cũ của triều Trần, Lê Văn Linh là sĩ phu, cùng với Lê Văn An, Trịnh Khả, Nguyễn Thận,... là những người có chí hướng muốn đem tài năng và sức lực để đánh giặc, cứu nước với sự chuẩn bị hết sức chu đáo cả về lực lượng và phương án tác chiến.

Trước khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nổ ra, căm phẫn những thủ đoạn tàn ác của giặc Minh, nhân dân Hải Đông đã vùng lên đấu tranh mạnh mẽ. Chính các sử gia nhà Minh cũng phải thừa nhận, “tại các phủ Tân An, Kiến Bình, Lạng Giang, các châu Đông Hồ (có lẽ là châu Đông Triều), Thái Nguyên và sông Sinh Quyết, dân Nam không phục, họp nhau làm loạn”. Tiêu biểu như

Bùi Bá Kỳ ở Phù Nội, huyện Thanh Miện1 và Trịnh Công Chứng, Lê Hanh ở châu Hạ Hồng; Phạm Thiện ở huyện Tân Minh; bảy anh em họ Phạm (gồm Phạm Luận, Phạm Thọ, Phạm Thành, Phạm Tường, Phạm Tụng, Phạm Kế và Phương Nương) ở Ngư Uyên, An Thủy, huyện Giáp Sơn (nay thuộc các xã Long Xuyên và Hiến Thành, thị xã Kinh Môn); Trịnh Công Chứng và Lê Điệt ở huyện Đồng Lợi; Phạm Chấn ở huyện Đông Triều; Lê Ngã ở Tràng Kênh (huyện Thủy Đường, Hải Phòng); Nguyễn Sư Cối, Phạm Chi, Trần Nguyên Khanh, Trần Nhân Trụ ở xã Nghi Dương (huyện An Lão, Hải Phòng)2; Phạm Ngọc ở chùa Đồ Sơn (huyện An Lão, Hải Phòng)...

Khi nghĩa quân Lam Sơn tiến công ra Bắc, cánh quân do Bùi Bị, Lưu Nhân Chú chỉ huy đều được nhân dân các vùng Hưng Yên, Hải Dương tích cực tham gia. Nhân dân làng An Bình, dưới sự tập hợp của Đốc quân Bùi Đức Quý, đã tích cực tham gia nghĩa quân. Nhân dân Đặng Xá (nay thuộc xã Minh Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) tích cực ủng hộ lương thực, thực phẩm cho nghĩa quân; người dân trang Đỗ Xá, phủ Hạ Hồng (nay thuộc xã Ứng Hòe, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương) tòng quân giết giặc... Tiêu biểu là Vũ Cự Luyện (người huyện Đường An) và Đoàn Lộ (người huyện Cổ Phí) tiến dâng kế sách đánh thành và các kiểu chiến bằng (đài cao bằng gỗ để đánh thành), xe phần ôn (xe có 4 bánh, căng dây làm khung, che bằng da trâu, dưới có thể nấp được 10 người, sắt, lửa, gỗ, đá không thể phá được), xe phi mã (cũng là loại xe để đánh thành). Các loại chiến cụ trên rất hiệu quả nên Bùi Bị, Lưu Nhân Chú đã “sai các tướng theo các kiểu ấy mà làm”, góp phần vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược.

1. Mục Tiết nghĩa, in trong Vũ Phương Đề: Công dư tiệp ký, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, 1969, tr.5-18 có phần “Gửi thư khuyên cố nhân, Lê Đại học sĩ quyết chí bảo tồn nước Nam” nói về mối quan hệ thân thiết từ khi còn nhỏ của Bùi Bá Kỳ với Lê Cảnh Tuân ở Mộ Trạch. Cả hai ông sau đều bị nhà Minh bắt, quản thúc tại Trung Quốc.

2. Về cuộc nổi dậy của Nguyễn Sư Cối, sách Minh sử chép: Trước kia, đồ đảng của giặc là Nguyễn Sư Cối tiếm xưng vương, cùng với ngụy Kim Ngô Thượng tướng quân Độ Nguyên Thổ chiếm giữ xã Nghi Dương thuộc huyện An Lão, châu Đông Triều, có hơn 2 vạn quân.

Tháng Giêng năm Vĩnh Lạc thứ 8 (1410), Trương Phụ đem quân đến đánh, chém được hơn 4.500 thủ cấp, bắt được bọn Phạm Chi, Trần Nguyên Khanh, Trần Nhân Trụ, hơn 2.000 người đem chém tất cả, rồi đắp kình quán để biểu dương chiến công.

Một phần của tài liệu LICH SU HAI DUONG tap 2 (Trang 191 - 197)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(516 trang)