Chương 1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨUĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
II. Các nhà tư tưởng tiêu biểu
1. Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà tư tưởng tiêu biểu của thế kỷ XVI
1.1. Sơ lược về tiểu sử
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) t ự là Hạnh Phủ , hiệu Bạch Vân cư sĩ quê làng Trung Am, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Ông đỗ trạng nguyên năm 1535 dưới triều Mạc, làm quan 8 năm, sau xin về hưu và mở trường dạy học.
Ông sống gần trọn một thế kỷ, là một người có kiến thức uyên bác bậc nhất đương thời, có quan hệ gắn bó với nhân dân, ông không những có đủ thời gian để chứng kiến buổi đầu suy tàn, cát cứ của chế độ phong kiến, mà còn có điều kiện hiểu sâu về xã hội đương thời. Ông mang nặng suy tư và trăn trở trước vận mệnh của dân tộc. Tư tưởng của ông thể hiện trong các bài biểu, tấu... gửi lên vua, đề đạt ý kiến của mình. Tư tưởng của ông còn được thể hiện trong 161 bài chữ Nôm và 93 bài chữ Hán thơ văn. Qua đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chứng tỏ được cái trí của mình, quan niệm nhân sinh của mình và nhận thức về luật vận động của vũ trụ, của lịch sử, của con người.
2.2. Nội dung tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm
- Quan niệm về thế giớ i và nhân sinh, trong lịch sử Việt Nam thời phong kiến thì Nguyễn Bỉnh Khiêm là người đề cập đến vấn đề này nhiều nhất. Điều đó do chính thời cuộc mà ông đã trải qua quy định. Ông xuất thân từ Nho giáo nhưng cũng chịu ảnh hưởng “Dịch học”, “Lý học”, “Phật học” trong suy ngẫm giáo lý, đạo lý, để cuối cùng trở về với dân tộc, với đồng ruộng, với luỹ tre xanh và người dân quê Việt Nam. Từ vấn đề nhân sinh, xã hội ông tìm đến vấn đề tự nhiên, để nhận thức tự nhiên rồi trở lại soi rọi những vấn đề xã hội, nhân sinh. Vì vậy, so với những người đi trước, ông có cách nhìn sâu sắc hơn, đúng đắn, hợp lý, tuy những quan niệm còn thô sơ, chất phác.
Ông cho rằng, con người là một bộ phận của tự nhiên, giữa trời và người có sự thống nhất với nhau, phù hợp với nhau. Con người cũng như mọi vật trong trời đất đều sinh ra một cách tự nhiên và Trời là tự nhiên - có quy luật của trời (quy luật của tự nhiên). Ông nói: “Sinh ý vô tư, vạn vật đồng” (Cái ý sinh
thành của trời không có thiên tư, muôn loài đều như nhau cả). Hạn chế của ông là không thấy được mặt khác nhau của con người và xã hội với tự nhiên, nên đã đồng nhất, do đó dẫn tới quan điểm duy tâm, số mệnh.
Nguyễn Bỉnh Khiêm quan niệm sự phát triển của tự nhiên là đạo trời.
Đạo trời phát triển có sinh thành - phát triển. Động lực cho sự phát triển ở trong bản thân sự vật, chuyển hoá là điều kiện để sự vật này biến thành sự vật khác.
Sự chuyển hoá giữa các mặt đối lập là quy luật của tự nhiên và xã hội. Nhưng ông lại chưa thấy được các điều kiện chuyển biến, mà chỉ thấy sự chuyển hoá đơn điệu: chẵn - lẻ, đầy - vơi, tròn - khuyết, cao - thấp... Thật ra sự phát triển của thế giới thì phong phú, đa dạng phải có nhận thức khoa học mới thấy được.
Từ đạo trời (quy luật vận hành của tự nhiên) là cơ sở ông giải thích đạo người (sự phát triển của xã hội và vận mệnh con người). Ông quan niệm đạo người trên cơ sở lý tưởng hoá đạo Nho, phát triển nguyên lý đạo Nho. Sự phát triển của đạo Nho theo cách tuần hoàn, không biến động và chiều hướng đi xuống. Quan niệm đạo người là “Trung chính” nghĩa là thiện, là nhân, là thương và cứu giúp người. Đó là một phần tư tưởng và nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm - nhân nghĩa, tình thương và lẽ phải.
Chủ nghĩa nhân đạo truyền thống gắn với yêu nước, thương dân. Chủ nghĩa yêu nước tạo nên nội dung cơ bản của tư tưởng Việt Nam từ ngày đầu dựng nước và giữ nước.
Đạo trời của Nguyễn Bỉnh Khiêm có yếu tố biện chứng, thì quan niệm đạo người lại rơi vào duy tâm thần bí, định mệnh, không thừa nhận vai trò hoạt động của con người trong sự phát triển xã hội và bản thân mình. Vì thế đã hạn chế tầm tư tưởng của ông.
- Tư t ưởng chính trị - xã hộ i củ a Nguyễn Bỉ nh Khiêm.
Sống trong một xã hội loạn lạc, chiến tranh và mọi tai hoạ đều đổ lên đầu dân chúng, thông cảm với nỗi đau của người dân, Nguyễn Bỉnh Khiêm mơ ước một xã hội thái bình thịnh trị. Thông qua thơ văn ông đã phác hoạ ra một xã hội với những đường nét: xã hội hoà bình, không có chiến tranh, nhân dân được sống trong yên ổn, no đủ, mọi người đối xử với nhau chân thật, hoà nhã, đạo đức tốt đẹp.
Xã hội mà Nguyễn Bỉnh Khiêm mơ ước đối lập với xã hội đương thời. xã hội này vua tham lam, bất lực, đục khoét của dân, quan lại tham nhũng, xã hội đảo lộn, quan hệ vua tôi, cha con ... hết sức lộn xộn, chiến tranh liên miên “nồi da sáo thịt” đã dẫn đến “sinh linh điêu đứng”, nỗi khổ dân tình đến c ực điểm.
Mặc dù ẩn dật, muốn xa lánh việc đời, nhưng ông lại ôm ấp một xã hội tốt đẹp, nên cũng không hoàn toàn xa lánh, bỏ mặc việc đời, vẫn biết đời, nhàn mà vẫn lo đến việc dân việc nước.
Để thực hiện xã hội tốt đẹp đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm chủ trương thực hiện lý tưởng đó bằng Vương đạo - Sự lựa chọn không vượt qua đường lối chính trị cổ truyền của Nho giáo.
Lấy đường lối vương đạo để phủ nhận bá đạo, lên án chiến tranh phi nghĩa, tranh giành quyền lực, không mang lại lợi ích cho dân mà còn làm nhân dân điêu đứng, đất nước bị chia cắt. Xã hội muốn phát triển phải thoát khỏi chiến tranh, thực hiện hoà bình thống nhất, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân. Vương đạo là đường lối tiến bộ phù hợp với xu thế lịch sử, là đường lối của nhà Nho sống gần gũi với người dân, gắn bó với dân. Vì vậy, đường lối vương đạo mang nội dung “Nhân, nghĩa”, thể hiện bằng chính sách, chăm lo đến đời sống của dân, nhất là dân nghèo, đáp ứng yêu cầu dân sinh và dân chủ.
- Quan niệm về đạo làm ngườ i, Nguyễn Bỉnh Khiêm quan niệm tốt xấu của đạo làm người có thể ảnh hưởng tới việc giải quyết những mâu thuẫn của
xã hội và bế tắc của lịch sử, quy định giá trị con người trong xã hội. Vì thế, ông thấy cần phải nêu ra quan niệm trong cách sống của mình. Cũng như các nhà Nho, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chủ trương con người phải sống theo những nguyên tắc đạo đức Nho gia, nhưng ông cũng thấy rằng ông vua đương thời cũng không phải là thánh quân, mà chỉ là kẻ hám danh, chuộng lợi, bấu xé lẫn nhau, như loại ruồi, kiến thấy mỡ tanh hôi thì bâu đến. Vì vậy ông quan niệm đạo làm người là Trung: trung với vua, hiếu với cha mẹ, thuận giữa anh em, hoà giưã vợ chồng, tín giữa bạn bè, thấy của phi nghĩa đừng có lòng tham, vui làm điều thiện lại có độ lượng, bao dung người khác, suy lòng chí thành để đối đãi với mọi người. Quan niệm trung nghĩa của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đưa quan niệm đạo đức nhân dân vào hệ thống các quan hệ con người trong xã hội. Điều đó đã nói lên được mong ước của nhân dân, thể hiện thái độ đối xử của nhân dân thành nguyên tắc sống động, có lợi cho sự rèn luyện của con người.
Nhìn chung thế giới quan triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm là thế giới quan duy tâm, nên đã khiến ông có lúc mang thái độ nhân sinh tiêu cực, truyền bá tư tưởng an phận, không đấu tranh... Cũng từ đó trong tư tưởng nhiều lúc tự mâu thuẫn với mình. Về tư tưởng chính trị, tuy thấy được vai trò to lớn của nhân dân trong sự yên nguy của triều đại, song xét cho cùng, ông chưa thấy được vai trò sáng tạo ra lịch sử của quần chúng nhân dân. Do đó ông vẫn chờ đợi vua hiền, tướng giỏi để thực hiện đường lối của mình. Trong tư tưởng về đạo làm người, Nguyễn Bỉnh Khiêm có mặt đúng, có mặt hạn chế. Song nguyện vọng muốn xã hội ấm no, hạnh phúc là nguyện vọng cao đẹp. Chính nguyện vọng đó cùng với cuộc đời thanh bạch, trong sáng đã phân biệt Nguyễn Bỉnh Khiêm với những kẻ ẩn dật tầm thường đương thời. Ông là người gắn bó với nước, với dân, thiết tha yêu nước, yêu dân, được nhân dân đương thời và về sau kính trọng.
2. Nguyễn Dữ (? - ?)
2.1. Vài nét về tiểu sử
Ông là học trò xuất sắc của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông là người sinh ra ở làng Đỗ Tùng, huyện Thường Tân (nay là Đỗ Lâm, Ninh Giang, Hải Dương).
Ông từng đi thi, từng đỗ đạt cao và làm quan dưới Triều Mạc. Về sau, ông từ quan về sống ấn dật nơi thôn dã... Tác phàm chủ yếu ông để lại là “Truyền kỳ mạn lục”.
2.2. Nội dung tư tưởng của Nguyễn Dữ
- Về chính trị, Nguyễn Dữ chủ trương trị nước bằng nhân nghĩa và đức trị. Về cơ bản, tư tưởng nhân nghĩa, đức trị của ông chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Khổng Mạnh. Theo ông phép trị nước, trước hết phải thấu hiểu lòng người, phải cốt làm sao cho được lòng người. Tuy nhiên, điểm đặc sắc trong tư tưởng đức trị của ông là đề cao triệt để Vương đạo, là trị nước phải có phép tắc, phải dựa vào cương thường. Nhưng cương thường, theo Nguyễn Dữ, không phải chỉ là trách nhiệm của bề tôi với vua, của người dưới với kẻ trên, mà còn là trách nhiệm của vua đối với bề tôi, của kẻ trên đối với người dưới. Có thể xem đây là một điểm sáng trong tư tưởng chính trị của Nguyễn Dữ, nhất là trong bối cảnh loạn lạc, cương thường bị đảo lộn.
- Tư tưởng về đạo đức của Nguyễn Dữ vừa là sự kế thừa các giá trị nhân nghĩa của người Việt, lại vừa mang dấu ấn của cả đạo Nho, có dung nạp cả những giá trị của Phật giáo. Ông cho rằng, người nho sỹ (trí thức) là những người quan trọng trong xã hội, phải biết tu thân, tự rèn luyện mình để rồi ra trị quốc. Theo ông, tu thân không chỉ là mịêt mài kinh sử, mà còn là phải sống sao cho thiện, lo làm việc thiện và biết yêu thương người khác, sống nhân hậu, tôn trọng người khác, sẵn sàng giúp người khi hoạn nạn. Ngoài Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Nguyễn Dữ, tư tưởng Việt Nam thời kỳ này còn ghi nhận công lao đóng góp của một người học trò xuất sắc nữa của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đó là Phùng Khắc Khoan (1528 - 1613).
III. Nhận xét chung
Thứ nhất: Từ thế kỷ XVI, tư duy của các nhà tư tưởng đã thực sự bước vào triết học, do đòi hỏi của thực tế xã hội. Tuy nhiên, lập trường giải quyết các vấn đề của họ về cơ bản vẫn là duy tâm, tiêu cực. Do không có cơ sở thực hiện, nên Nguyễn Dữ (một nho sĩ từng đi thi Hội, ra làm tri huyện dưới triều Mạc, nhưng không bao lâu cáo quan về quê), đã dựa vào tư tưởng duy tâm thần bí để truyền bá lý tưởng xã hội và quan niệm nhân sinh của mình, qua tác phẩm Truyền kỳ mạn lục (tập hợp những ghi chép về các truyện kỳ lạ lưu truyền ở đời).
Thứ hai: Nho giáo là công cụ chính của các tập đoàn phong kiến. Giáo dục và thi cử (lấy nội dung tứ thư, ngũ kinh và thơ, phú để thể hiện tài năng, ý chí và đạo đức con người) được tăng cường và có nề nếp, nên đã mở rộng thành phần giai cấp xuất thân của tầng lớp sỹ phu. Chính điều này đã làm xuất hiện những tư tưởng tích cực phản ánh nhu cầu dân chủ và nhân quyền trong khuôn khổ của chế độ phong kiến lúc bấy giờ. Nhiều người muốn noi theo và phát huy đường lối chính trị của Khổng - Mạnh, nhấn mạnh nghĩa vụ của bề trên đối với kẻ dưới, chú trọng đến lòng người (nhân tâm) và được lòng người (đắc nhân tâm).
Nhiều nho sĩ có tên tuổi đã thấy được sự bất lực đầu tiên của Nho giáo trước các vấn đề xã hội, lý tưởng sống thì trong tình trạng khủng hoảng và bế tắc. Họ cũng cố gắng đi tìm một đường lối chính trị để khắc phục tình hình và khuynh hướng kết hợp các học thuyết, các tôn giáo đã được đề cập. Song bản thân Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức còn tỏ ra bất lực thì Phật
giáo và Đạo giáo là những học thuyết không bàn đến chính trị, không chủ trương giải quyết những vấn đề xã hội thực tế ... làm sao có thể khắc phục được tình hình. Sự bất lực của Nho giáo lúc này là sự bất lực của hệ tư tưởng của chế độ phong kiến Việt Nam, và hậu quả của nó là sự bất lực của chế độ phong kiến trong việc điều hành và quản lý đất nước, được thể hiện sâu sắc ở các thế kỷ sau.
CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN
1. Tóm lược hoàn cảnh lịch sử xã hội Việt Nam thế kỷ XVI - XVII.
2. Phân tích nội dung cơ bản của tư tưởng Việt Nam thế kỷ XVI - XVII, phân tích các giá trị và hạn chế lịch sử trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
3. Hãy phân tích và so sánh làm rõ sự đồng nhất, khác biệt của sự hình thành, phát triển tư tưởng Việt Nam thế kỷ XV với thế kỷ XVI - XVII.
Chương 7
TƯ TƯỞNG VIỆT NAM THẾ KỶ XVIII