Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam thời kỳ từ thế kỷ X - XIV

Một phần của tài liệu Lịch sử tư tưởng việt nam (Trang 50 - 55)

Chương 1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨUĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

I. Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam thời kỳ từ thế kỷ X - XIV

Vào những năm 30 của thế kỷ X, phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam phát triển rộng khắp, liên tục, bền bỉ và anh dũng chống quân xâm lược phương Bắc. Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đã châm dứt thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn 1000 năm và thiết lập vương triều nhà Ngô. Ngô Quyền ở ngôi vua được 6 năm thì mất (938 - 944), em vợ là Dương Tam Kha cướp ngôi và tự lập ngôi vua mới là Dương Bình Vương (944 - 950). Chẳng bao lâu đưa tới phân tranh đất nước thành các sứ quân. Năm 968 Đinh Bộ Lĩnh thống nhất được 12 sứ quân lên ngôi, lấy hiệu là Đinh Tiên Hoàng, đóng đô ở Hoa Lư, đặt tên nước là Đại Cồ Việt. Nối tiếp nhà Đinh (968 - 980) là nhà Lê (980 - 1009), nhà Lý (1010 - 1225), nhà Trần (1225 - 1400).

Từ nửa sau thế kỷ X đến đầu thế kỷ XI, các triều đại Đinh - Lê đã thiết lập được sự ổn định xã hội, tăng cường quốc phòng, thực hiện sự đoàn kết thống nhất dân tộc trong cả nước. Đó là cơ sở ban đầu cho sự tồn tại và phát triển của đất nước, nhờ đó mà các triều đại Lý - Trần có bước tiến dài trong công cuộc xây dựng đất nước vững mạnh và thịnh vượng.

Về kinh tế, nhà nước phong kiến đặc biệt quan tâm tới các vấn đề sản xuất nông nghiệp, thực hiện chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất, hình thành ruộng đất tư của vương công, quý tộc, địa chủ, công điền, công thổ ở làng xã.

Nhà nước có chính sách bảo vệ sức lao động và phát triển đàn trâu bò để tăng sức kéo, xây dựng và quản lý công trình thuỷ lợi, ngăn lũ, khẩn hoang.

Nông nghiệp thúc đẩy làng nghề thủ công phân chia thành khóm, phường ở kinh thành Thăng Long, tạo th ị trường buôn bán, trao đổi sản phẩm, kích thích giao thông phát triển. Với cơ cấu kinh tế đó đã xuất hiện giai cấp và phân tầng xã hội. Tầng lớp quý tộc, quan lại, tăng lữ gắn với quyền lực nhà vua.

Tầng lớp nho sĩ có vai trò duy trì ổn định, củng cố quyền lực của triều đình phong kiến. Đại đa số là nhân dân lao động, thợ thủ công, người buôn bán nhỏ, nông nô và nô tỳ ở điền trang thái ấp. Mâu thuẫn giai cấp đã xuất hiện nhưng chưa gay gắt và sâu sắc, bởi vì cả dân tộc đều đứng trước hai nhiệm vụ: giữ vững, bảo vệ nền độc lập dân tộc và phát triển đất nước đủ sức chống nguy cơ xâm lược của ngoại xâm. Chỉ tới thế kỷ XIII mâu thuẫn giữa địa chủ và nhân dân mới khá gay gắt và đã phát triển thành các cuộc khởi nghĩa của nhân dân, tiêu biểu là Ngô Bệ và Trần Tề.

Nhà nước phong kiến được duy trì và củng cố, quyền lực nhà nước đều dựa vào tầng lớp nho sĩ được tuyển chọn thông qua giáo dục và thi cử theo nguyên tắc của Nho giáo. Nhiều chức vụ quan trọng chuyển từ tầng lớp quý tộc sang tầng lớp nho sĩ. Nhà nước quản lý giáo dục văn hoá, tư tưởng nhằm tạo ra tầng lớp trí thức dân tộc, để tuyển lựa vào bộ máy quan lại, đồng thời cũng ảnh hưởng đến thế giới quan, quy phạm chính trị đạo đức của con người, phong cách sáng tác văn học, nghệ thuật, sáng tạo khoa học.

Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV không chỉ phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội - chính trị - văn hoá của đất nước, mà còn phụ thuộc vào di sản của quá khứ về trình độ nhận thức vững chắc về tự nhiên và xã hội, về cuộc đấu tranh chống thiên tai địch hoạ, về tình đoàn kết cộng đồng, tinh thần quật khởi, bất khuất chống xâm lược giành độc lập cũng bị

chi phối bởi ý thức hệ phong kiến, mà trước hết là của Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo.

2. Những nét chính về tư tưởng

Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV đều xuất phát từ tiền đề kinh tế, xã hội, chính trị và văn hoá. Nội dung, xu thế phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV đã đáp ứng được yêu cầu của lịch sử Việt Nam. Trong đó nội dung trọng tâm quy định những nét cơ bản của tư tưởng Việt Nam thời kỳ này là vấn đề bảo vệ và củng cố nền độc lập dân tộc, chủ quyền đất nước, vấn đề dựa vào dân, xây dựng khối đoàn kết toàn dân, tổ chức nhân dân thành lực lượng thống nhất chống nguy cơ xâm lược của kẻ thù. Đồng thời phải xây dựng bộ máy nhà nước phong kiến hùng mạnh để tổ chức và điều khiển công cuộc xây dựng và cai tr ị đất nước. Những tư tưởng nổi bật của thời kỳ này:

Một là, tư tưởng về nền độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia

Đây là tư tưởng lớn có bước phát triển quan trọng, chứa đựng chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng của dân tộc, để tạo ra sức mạnh mới chống nguy cơ xâm lược của nước ngoài. Tư tưởng đó được thể hiện trong một số bài thơ, bài chiếu của Lý Thái Tổ, Lý Thường Kiệt, Trần Nhân Tông...

Trong bài chiếu dời đô năm 1010 - Bài văn chính luận ngắn gọn, sắc sảo, mở đầu cho nền văn hoá Thăng Long, bộc lộ tầm nhìn chiến lược sâu rộng của một nhà lãnh đạo quốc gia, nhận thức được về sự trường tồn và phát triển của đất nước.

Lý Công Uẩn đã nhận rõ Thăng Long là trung tâm đầu mối liên hệ thống nhất về kinh tế, chính trị, văn hoá tư tưởng, chi phối mọi hoạt động của cộng đồng dân tộc, góp phần củng cố sự thống nhất quốc gia, làm cho chính quyền

trung ương có uy lực để cai quản đất nước, làm cơ sở cho công cuộc dựng nước và giữ nước: “Chỉ vì muốn đóng nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế lâu dài cho con cháu đời sau. Do đó, trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, thấy tiện lợi thì đổi dời, cho nên vận nước dài lâu, phong tục giầu thịnh”.

Với địa thế Thăng Long thì “Ngắm khắp nước Việt ta, duy đó là thắng địa, thật là nơi then chốt của bốn phương hội lại, và cũng là nơi đô thành bậc nhất của đế vương muôn đời”.

Hơn nửa thế kỷ sau, trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược, tư tưởng về nền độc lập dân tộc và ch ủ quyền quốc gia lại xuất hiện trong bài thơ 4 câu 28 chữ của Lý Thường Kiệt “Nam quốc sơn hà”.

Nam quốc sơn hà nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!

Đây thực sự là bản tuyên ngôn về nền độc lập và chủ quyền đất nước, khẳng định ý chí quyết tâm, biểu thị một niềm tin vô hạn vào thắng lợi của dân tộc trong sự nghiệp giữ nước, bảo vệ nền độc lập dân tộc.

Hai là, nhận thức về dân

Dựa vào dân, lấy dân làm gốc, khoan thư sức dân. Coi nhân dân là lực lượng quyết định trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc, duy trì trật tự xã hội.

Nhận thức vai trò của nhân dân trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, thời Lý - Trần, nhà nước phong kiến quan tâm đến đời sống và nguyện vọng của nhân dân, bồi dưỡng sức dân, tranh thủ lòng dân là công việc hàng đầu của đạo trị nước, một tiêu chuẩn để nhà vua tự sửa mình. Những vấn đề đó vẫn chỉ

được coi là yếu tố đức trị trong Nho học, là hiện tượng cần thiết cho những nhu cầu chính trị của chế độ phong kiến.

Ba là, đề cao đức tr ị, đồng th ời quan tâm đến lu ật l ệ , luật pháp để cai trị đất nước.

Để củng cố và phát triển đất nước các đại biểu tư tưởng phong kiến quan tâm tới vấn đề quân quyền, củng cố quyền lực tối cao của nhà vua. Thời Đinh - Lê, quan niệm về đạo trị nước chịu ảnh hưởng của Phật và Lão - Trang. Nho giáo dần được phát triển, được các triều đại Lý - Trần sử dụng làm công cụ cai trị đất nước. Các nguyên tắc của nho giáo được đề cao. Kết cấu xã hội Việt Nam được tổ chức trên 3 trục vững vàng: Nhà - Làng - Nước. Quan niệm Trung - Hiếu trở thành nguyên tắc cai trị, tiêu chuẩn cho hành vi của nhà vua, quần thần, quân sĩ và người dân. Giữa trung và hiếu có quan hệ chặt chẽ. Hiếu quy định sự phục tùng của con cái với bố mẹ, lòng trung thành trong phạm vi nhỏ nhằm duy trì trật tự phong kiến trong gia đình, góp phần củng cố trung với vua của bề tôi, của dân với nước, nước với vua. Sự thịnh hành của quan niệm đó đáp ứng yêu cầu củng cố quyền lực và đảm bảo sự tồn tại của vương triều thời đó.

Tuy nhiên, quyền lợi của vua quan về cơ bản thống nhất với dân, nên các tướng lĩnh thời Lý - Trần đã tổ chức và điều hành kháng chiến thắng lợi. Khái niệm đạo đức thời đó thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước.

Cùng với việc đề cao đức trị, thời Lý - Trần cũng quan tâm đến luật pháp để cai trị đất nước. Các bộ luật “Hình thư” năm 1042, “Quốc triều hình luật”

năm 1230, “Hoàng triều đại điển và hình thư” năm 1341, thể hiện quan điểm dùng pháp luật để bảo vệ sự tồn tại của nhà nước phong kiến, bảo vệ và phát triển nền nông nghiệp, bảo vệ sức lao động và sức kéo trong nông nghiệp; đồng thời các triều đại Lý - Trần đều quan tâm đến việc tổ chức cơ quan tư pháp và hoàn thiện thể lệ xét xử.

Tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, nhất là trong thời Lý - Trần đã tỏ ra phong phú và đạt tới một trình độ khá cao, phản ánh rõ nét cơ bản của đời sống sinh hoạt chính tr ị trong thời kỳ oanh liệt ấy.

Một phần của tài liệu Lịch sử tư tưởng việt nam (Trang 50 - 55)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(140 trang)