Các đại biểu tư tưởng Việt nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX

Một phần của tài liệu Lịch sử tư tưởng việt nam (Trang 130 - 137)

Chương 1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨUĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

II. Các đại biểu tư tưởng Việt nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX

Cụ Phan Bội Châu, Hiệu là Phan Sào Nam, tên tự là Hải Thụ sinh năm 1867 tại xã Đông Liệt, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Cụ sinh ra trong một gia đình nhà nho, có truyền thống yêu nước. Ngay từ nhỏ cụ đã được giáo dục một cách hệ thống, có trí thông minh, lại sớm được hấp thụ tinh thần yêu nước của gia đình, quê hương. Năm 6 tuổi đã thuộc lòng Tam tự kinh. Lên chín tuổi, cậu bé Phan đã bày tỏ ý thích muốn gia nhập phong trào chống thực dân.

Năm 17 tuổi, khi thực dân Pháp tiến đánh Bắc kỳ, chàng thanh niên Phan Bội Châu đã viết tác phẩm “Bình Tây Thu Bắc” kêu gọi tinh thần đánh Tây (chống Pháp), dành lại Bắc Kỳ. Năm 19 tuổi, chàng Phan thành lập một tổ chức đội thí sinh, bao gồm những thanh niên trí thức trẻ, yêu nước để hưởng ứng Phong trào Cần Vương, kháng Pháp của Vua Hàm Nghi. Năm 1900, Phan Bội Châu đã đỗ đầu bảng kỳ thi Hương tại Trường thi Nghệ An. Từ năm 1901. Phan Bội Châu chuyên tâm nghiên cứu tìm tòi con đường cứu nước cứu dân. Ông tham gia tích cực và trở thành một trong những lãnh tụ quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn trong tổ chức Duy Tân Hội và Việt Nam Quang phục Hội. Năm 1924, do chịu ảnh hưởng tư tưởng Tam dân của Tôn Trung Sơn, Phan Bội Châu dự định cải tổ Việt Nam quang phục hội theo kiểu một Đảng chính trị kiểu Quốc dân Đảng. Tháng 12 năm 1924, sau khi được tiếp xúc Nguyễn Ái Quốc, Phan Bội Châu quyết định về nước cải tổ tổ chức này theo hướng cấp tiến hơn.

Nhưng việc chưa thành, cụ đã bị thực dân Pháp bắt ngày 30 tháng 6 năm 1925, tại ga Thượng Hải, trên đường trở về Tổ quốc.

Từ năm 1926, cụ Phan Sào Nam là tù nhân bị giam lỏng. Cho đến nay, không rõ cụ mất ngày tháng năm nào.

Cụ Phan Bội Châu để lại nhiều tác phẩm - di sản rất quý giá, tiêu biểu có:

“Lưu cầu huyết lệ tân thư”, “Việt Nam vong quốc sử”, Lịch sử Việt Nam diễn ca, Xã hội chủ nghĩa, Lời hỏi thanh niên... cùng với khoảng 800 bài thơ các loại và nhiều di sản bút tích khác.

2. Phân Châu Trinh (1872 —1926)

Phân Châu Trinh có hiệu là Tây Hồ, biệt hiệu Hy Mã sinh ngày 9 tháng 9 năm 1872 tại làng Tây Lộc, huyện Hà Đông (nay là huyện Tiên Phước), phủ Tam Kỳ (nay là tỉnh Quảng Nam), trong một gia đình võ quan nhỏ. Thuở nhỏ ông theo lối học nghiệp ở quê. Mãi tới năm 1900, ông đậu cử nhân cùng với các bạn đồng liêu: Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng. Năm 1901, ông đậu Phó Bảng, được bổ nhiệm làm Thừa biện Bộ Lễ.

Khác với những vị quan khác, ông sớm nhận thấy chốn quan trường trong khi nước mất, không thể làm được gì cho đất nước mà chỉ là “túi cơm, vá áo loàng xoàng”. Vì vậy ông từ quan, rủ các bạn Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng đi chu du, vào miền Nam. Đến Bình Định, thấy có khoa thi, các ông xin vào thi với tên chung là “Đào Mộng Giác”, với bài thi có nội dung kêu gọi lòng yêu nước, mang tư tưởng độc lập dân tộc, chống ngoại xâm, làm các quan trường thi bối rối phải báo cáo với triều đình. Từ đây ông cùng bạn bè chuyên tâm dốc lòng vào sự nghiệp đấu tranh chấn hưng đất nước, chống Pháp.

Di sản cụ Phan Châu Trinh để lại rất phong phú. Tiêu biểu trong số đó là

“Thư gửi quan toàn quyền Đông Dương” (1906), Điều trần về cuộc đấu tranh chống sưu thuế ở miền Trung (Trung kỳ dân biểu Thuỷ mặc kế), Pháp Việt liên hiệp hậu chi Tân Việt Nam.

3. Nguyễn Á i Quốc (1890 —1969)

Khi phong trào Đông du bắt đầu, Nguyễn Tất Thành 15 tuổi. Các cụ trong Duy tân hội đã gợi ý để Người cùng bạn bè sang Nhật học tập nhưng Người đã từ chối, vì hướng đi của các cụ hoặc không thực tế hoặc rất nguy hiểm. Điều này chứng tỏ về phương pháp tư tưởng Nguyễn Tất Thành đã có tinh thần độc lập suy nghĩ không theo lối mòn, thấy cần phải tìm một hướng đi mới và ngày 5/6/1911 đã lên một chiếc tàu buôn rời Việt Nam đi tìm đường cứu nước.

Vào đầu thế kỷ XX vấn đề cấp bách là đổi mới chủ nghĩa yêu nước truyền thống và Nguyễn Tất Thành đã suy nghĩ và hành động để đáp ứng yêu cầu đó. Đây là bước ngoặt thứ nhất, là tiền đề tư tưởng đưa Nguyễn Tất Thành đến với chủ nghĩa Mác - Lênin một cách tự nhiên.

Năm 1917 Nguyễn Tất Thành từ Luân Đôn về Pari và cuối năm 1918 Người gia nhập Đảng xã hội Pháp. Vào những năm 1918 - 1919 Đảng xã hội Pháp là đảng tiên tiến nhất ở Pháp và nói chung là tổ chức đứng dưới ngọn cờ xã hội chủ nghĩa, chống tư bản đế quốc.

Nguyễn T ất Thành đến nhiều nước tư b ản phát triển và trở lại trung tâm của chủ nghĩa tư bản, nhưng Người không đi theo con đường của cách mạng tư sản Pháp và cách mạng Mỹ, mà đi tìm con đường cách mạng khác.

Đây là mốc quan trọng thứ hai trên con đường Người đến vớ i chủ nghĩa Mác - Lênin.

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, ảnh hưởng của cách mạng tháng Mười Nga đã dội vào nước Pháp. Tuy chưa hiểu biết đầy đủ về cuộc cách mạng Nga, nhưng Người đã hân hoan chào đón và hăng hái tham gia cuộc vận động quyên góp, ủng hộ nhân dân Nga chống lại sự can thiệp của đế quốc pháp và các nước đế quốc khác vào nước Nga.

Đến đây trong tư tưởng Nguyễn Ái Quốc, ngoài chủ nghĩa yêu nước đã có thêm những nhân tố cộng sản. Đó là mốc quan trọng thứ ba trên con đường đến với chủ nghĩa Mác - Lênin của Người.

Nă m 1919 Nguyễ n Ái Qu ố c là thành viên củ a Đả ng xã h ộ i Pháp, vào lúc này Đảng xã hội Pháp đang phân hoá sâu sắc về chính trị: Phái hữu vẫn trung thành với Quốc tế II với đường lối cải lương chủ nghĩa, Phái tả đòi gia nhập Quốc tế III, đi theo Lênin, Phái giữa thái độ lừng chừng bị gọi môt cách mỉa mai là Quốc tế hai rưỡi.

Một thành viên của Đảng xã hội Pháp, đã đưa cho Nguyễn Ái Quốc bản

“Dự thảo luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin, (chuẩn bị báo cáo ở đại hội II Quốc tế cộng sản), vừa được đăng trên báo Nhân đạo. Người đã đọc nhiều lần và dần dần hiểu ra được ý nghĩa của nó một cách sâu sắc. Từ đó Người tán thành Quốc tế III và hoàn toàn tin theo Lênin.

Luận cương của Lênin đã giải đáp trúng những vẫn đề mà Người đang tìm hiểu, đã giúp Người khẳng định chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản, con đường của cách mạng tháng Mười, con đường chủ nghĩa Mác - Lênin.

Đây là bước ngoặt căn bản trên con đường tìm đến chân lý giải phóng của Người: kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa cộng sản. Bước ngoặt đó được hình thành bằng hoạt động có ý nghiã lịch sử; Trong Đại hội của Đảng xã hội Pháp họp ở Tua tháng 12 năm 1920 Người đã cùng 3208 đại biểu cánh tả bỏ phiếu tán thành Quốc tế cộng sản, thành lập ra Đảng Cộng sản Pháp, chống lại 1022 đại biểu cánh hữu phản đối lập ra Đảng Cộng sản.

Bằng hành động lịch sử đó Nguyễn Ái Quốc đã mở đường cho cách mạng Việt Nam ra khỏi khủng hoảng về đường lối; đã gắn phong trào cách mạng Việt Nam với thế giới; gắn ngọn cờ độc lập dân tộc với ngọn cờxã hội chủ nghĩa, đã mở đường cho chủ nghĩa Mác - Lênin thâm nhập vào Việt Nam.

III. Mấy cách đưa chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ XX

1. Sự truyền bá chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Mác - Lênin của các nhà Tân thư vào Việt Nam

Các nhà Tân thư coi chủ nghĩa Mác - Lênin cũng giống như các trào lưu tư tưởng xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa cộng sản khác. Coi các trào lưu tư tưởng xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa cũng giống như các tư tưởng về dân chủ, bình đẳng và bác ái tư sản nói chung, là tư tưởng tiến bộ phương Tây, cần phải học, phải noi theo.

Việc truyền bá thông qua con đường công khai và bí mật, nhiều sách báo với nội dung dân chủ tư sản, được đưa vào Việt Nam. Trong đó có cả các tác phẩm giới thiệu về chủ nghĩa Mác - Lênin, giớ i thiệu về tư tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Thậm chí có cả các tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa Mác cũng được giới thiệu trên báo chí Việt Nam, như trường hợp tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” được Nguyễn An Ninh cho đăng bằng tiếng Pháp trên tờ “Tiếng chuông rè” ở Sài Gòn...

2. Cách đưa chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc

Sớm có tinh thần yêu nước, Nguyễn Ái Quốc đã đi ra nước ngoài với mong muốn tìm con đường cứu nước, tìm cách thức tỉnh đồng bào mình. Lúc đầu là “Ngoạ ngoại chiêu hiền” viết báo Le Paria, tuyên truyền cách mạng thế

giới cho các dân tộc thuộc địa, trực tiếp là ở Pari, viết sách “Bản án chế độ thực dân Pháp” - quyển “Kinh thánh của Thanh niên Việt Nam trong những năm 20”. Sau Người về gần biên giới nước nhà, tổ chức đào tạo hàng trăm thanh niên để họ trở về hoạt động trong nước. Người đã ghi dấu ấn sâu sắc của mình vào tư tưởng của lớp chiến sĩ cách mạng đầu tiên này. Từ lập trường yêu nước tư sản cấp tiến, Nguyễn Ái Quốc đã sớm chuyển sang chủ nghĩa yêu nước trên lập trường giai cấp công nhân. Trong con người Nguyễn Ái Quốc, chủ nghĩa yêu nước đã kết hợp với lập trường duy vật cách mạng của giai cấp công nhân, khi Người sớm nhận ra: thứ nhất, không phải là người Pháp, nước Pháp xâm lược Việt Nam, mà là tư sản mại bản Pháp, chủ nghĩa thực dân Pháp xâm lược Việt Nam; thứ hai, ở đâu cũng chỉ có 2 hạng người, một bên là đa số người lao động nghèo khổ bao gồm thợ thuyền, nông dân, binh lính... bị bóc lột, và một bên là thiểu số giai cấp tư sản, thực dân bóc lột và áp bức.

Nguyễn Ái Quốc đóng vai trò chính trong việc đưa chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, nhưng không phải là người duy nhất. Còn có hai nguồn khác quan trọng là từ Pháp và Trung Quốc, và bao trùm lên tất cả là vai trò tích cực của quốc tế cộng sản đối với cách mạng Việt Nam.

Sau Đại hội II (8/1920), Quốc tế Cộng sản đã phái cán bộ đến Sài Gòn để đặt kế hoạch truyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin ở đây. Những người Nga đến Sài Gòn chưa kịp triển khai hoạt động đã bị Pháp kiếm cớ trục xuất. Do đó, đến cuối năm 1920 sự cố gắng của Quốc tế Cộng sản chưa chọc thủng được lưới sắt của thực dân Pháp để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam. Vì vậy Quốc tế Cộng sản đã chỉ thị cho các Đảng Cộng sản in các tài liệu mác xít để chuyển vào Việt Nam. Đảng Cộng sản Pháp có công không nhỏ trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam; đã in và gửi vào Việt Nam hàng nghìn bản những tác phảm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin và các

báo Nhân đạo, người cùng khổ... trên các báo này thường xuyên có bài của cơ quan Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, các bài tham luận bênh vực thuộc địa của các nghị sĩ của Đảng Cộng sản Pháp... có tiếng vang rộng rãi trong dư luận Việt Nam.

Đảng Cộng sản Trung Quốc có một số cán bộ đáng kể làm công tác Hoa vận đắc lực ở Việt Nam. Các lớp huấn luyện đầu tiên đào tạo cán bộ Việt Nam một cách có kế hoạch là ở Quảng Châu...

Đại diện của ban chấp hành Quốc tế Cộng sản đã đề nghị Đảng Cộng sản Pháp cử Nguyễn Ái Quốc sang Liên Xô để làm việc. Ngày 30/6/1923 Nguyễn Ái Quốc đến Liên Xô và hoạt động trong ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, nhờ đó Người có điều kiện hoàn chỉnh những tư tưởng chính tr ị và phác họa những nét lớn về chiến lược cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc theo đường lối Quốc tế Cộng sản.

Nhằm tạo điều kiện cho việc đào tạo cán bộ Việt Nam. Quốc tế Cộng sản đã cử Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu hoạt động (ngày 11/11/1924). Ở đây người làm việc với tư cách là người phiên dịch của phái đoàn M. Bôrôđin (đại diện của Quốc tế Cộng sản) làm cố vấn chính trị cho chính phủ Tôn Dật Tiên.

Bôrôđin đã đến giảng lịch sử Đảng Cộng sản (b) Nga tại các lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc tổ chức và ông đã giới thiệu các giảng viên Xô viết đang giảng dạy tại Trường quân sự Hoàng Phố đến giảng bài tại các lớp huấn luyện này.

Nhờ sự giúp đỡ của phái đoàn Bôrôđin, Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên (1925) - tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Quá trình chủ nghĩa Mác - Lênin truyền bá vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam đã đưa đến sự ra đời của các nhóm cộng sản vào cuối năm 1929 đầu năm 1930.

Mùa xuân năm 1930, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập Hội nghị thành lập Đảng tại Cửu Long (Trung Quốc). Hội nghị đã tán thành hợp nhất các nhóm cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị đã thông qua “Chính cương vắn tắt” điều lệ vắn tắt, sách lược vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Các văn kiện này xác định đường lối chiến lược của Đảng phải tiến hành “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”.

Với sự ra đời các Đảng Cộng sản Việt Nam đánh dấu sự thành công của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam đã chấm dứt sự khủng hoảng lãnh đạo kéo dài ở Việt Nam và là bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch s ử cách mạng Việt Nam. Nó chứng tỏ rằng giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành và đủ sức mạnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Một phần của tài liệu Lịch sử tư tưởng việt nam (Trang 130 - 137)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(140 trang)