Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX

Một phần của tài liệu Lịch sử tư tưởng việt nam (Trang 117 - 130)

Chương 1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨUĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

I. Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX

Để hoàn thành cuộc xâm lược Việt Nam, Pháp ph ải mất gần 40 năm (1858 - 1896). Cho nên ngay sau khi chiếm được nước ta, thực dân Pháp bước vào khai thác thuộc địa với quy mô lớn và xã hội Việt Nam bắt đầu phân hoá theo đà phát triển mới.

Dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 - 1914) cơ cấu kinh tế Việt Nam đã bắt đầu thay đổi. Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được đưa vào Việt Nam, phối hợp với quan hệ bóc lột phong kiến cũ, làm cho Việt Nam trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Cơ cấu xã hội có sự chuyển biến rõ rệt và phân hoá sâu sắc: nông dân bị bần cùng hoá và phá sản, địa chủ trở thành chỗ dựa cho chủ nghĩa đế quốc. Giai cấp công nhân hình thành và đang ở trong giai đoạn “tự phát”. Tầng lớp tư sản và tiểu tư sản đang trong quá trình tập hợp...

Hệ quả chính trị tất yếu của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp không chỉ được thể hiện thông qua những biến đổi quan trọng trong cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội - giai cấp như đã trình bày trên đây. Điều quan trọng là, những biến động ấy đã làm xuất hiện, ngày càng gay gắt thêm các mâu thuẫn giữa kinh tế với chính trị, giữa nhân dân, dân tộc Việt Nam khát khao dành lại độc lập dân tộc với thực dân Pháp xâm lược. Điều đặc biệt là các mâu

thuẫn đó lại được thể hiện tập trung ở tiêu điểm: dành độc lập theo con đường nào và bằng các phương thức nào? Các nhà yêu nước Việt Nam lúc này không thể né tránh những vấn đề đặt ra từ thực tế lịch sử sôi động, đau thương và bi hùng của dân tộc. Đó là các vấn đề:

Một là, liệu có thể dành độc lập dân tộc theo con đường và lập trường phong kiến như cách làm truyền thống?

Hai là, dành độc lập theo cách mà các nước Phương Tây đã làm thông qua các cuộc cách mạng dân chủ tư sản cổ điển?

Ba là, có thể có một con đường nào khác với 2 khả năng, 2 con đường nói trên.

Thực tiễn chính trị sôi động của Châu Á và thế giới thời kỳ đó cũng tác động sâu sắc và tạo nên tính bức thiết phải tìm lời giải đáp cho các vấn đề nêu trên.

2. Tình hình thế giơí có ảnh hưởng đến phong trào cách mạng và sự phát triển tư tưởng Việt Nam

Thứ nhất, cuộc vận động duy tân của Trung Quốc khởi nguồn từ sau chiến tranh thuốc phiện 1840. Một số sĩ phu tiến bộ hướng về phương Tây, tìm đường cứu nguy cho nước. Họ chủ trương một chính sách khai phóng, học tập khoa học kỹ thuật phương Tây, tư bản chủ nghĩa... để mau chóng đuổi kịp các nước trên thế giới.

Từ sau cuộc chiến tranh Trung - Pháp 1885 tới cuộc chiến tranh Trung - Nhật 1895, các sĩ phu có tên tuổi như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng, Nghiêm Phục... đã sáng lập ra các hội, viết sách báo... Hoạt động duy tân trở thành phong trào rộng lớn khắp toàn quốc. Trào lưu này đã ảnh hưởng đến vua Quang Tự. Ông vua này muốn dựa vào phái cải cách để duy tân, vừa

thay đổi xã hội Trung Quốc vừa thay đổi sự lệ thuộc của mình vào Từ Hy Thái Hậu. Quang Tự đã giao cho Khang Hữu Vi thực hiện nghiên cứu “biến pháp”

bắt đầu từ 11/6/1898. Phong trào duy tân không được Từ Hy Thái Hậu và quan lại Mãn Thanh ủng hộ nên đêm ngày 21/9/1898 Từ Hy đã tổ chức chính biến bắt giam Quang Tự và truy nã phái duy tân. Đàm Tự Đồng và năm người nữa đã bị giết. Khang, Lương trốn thoát ra nước ngoài.

Phong trào duy tân của Trung Quốc thất bại, nhưng đã khẳng định con đường văn minh theo phương Tây đang trở thành yêu cầu sống còn của các quốc gia phương Đông và quyết tâm của sĩ phu Trung Quốc đối với duy tân đã hối thúc, cổ vũ các sĩ phu yêu nước Việt Nam đương thời.

Thứ hai, Nhật Bản duy tân và chiến thắng Nga Hoàng. Nửa sau thế kỷ XIX từ thời Minh Trị (1868), Nhật Bản đã chấm dứt chế độ phong kiến và hiện đại hoá nước Nhật theo tư duy tư bản chủ nghĩa. Năm 1870 tuyên bố bãi bỏ hệ thống đẳng cấp (vũ sĩ, nông dân, thủ công, thương nhân). Ngày 11/2/1889 tuyên bố hiến pháp quân chủ lập hiến, chế độ đại nghị. Nhật Bản trở thành cường quốc qua hai cuộc đọ sức: Trung - Nhật 1894 - 1895 và Nga - Nhật 1904 -1905.

Vì thế ảnh hưởng của duy tân và tự cường của Nhật Bản đối với Việt Nam rất lớn.

Thứ ba, cách mạng Tân Hợi 1911 của Trung Quốc, theo hướng dân chủ tư sản, thể hiện chủ nghĩa tam dân của Tôn Văn (dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc) đã ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng Việt Nam đầu thế kỷ XX.

3. Những diễn biến chính trị quan trong diễn ra ở Việt Nam đầu thế kỷ XX

3.1. Phong trào kháng chiến chống Pháp trên lập trường yêu nước của các sỹ phu phong kiến và tiểu tư sản

Trong suốt thế kỷ XIX, Nhân ta ở khắp mọi miền đất n ước đã hưởng ứng và tham gia mạnh mẽ vào các cuộc khởi nghĩa do các quan lại, sĩ phu phong kiến, những anh hùng nông dân... nhằm dành lại độc lập cho dân tộc. Vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, phong trào này có xu hướng bùng phát dữ dội hơn. Đỉnh điểm của phong trào ấy là cuộc khởi nghĩa Hương khê (Hà Tĩnh) của Phan Đình Phùng và cuộc kháng chiến của Nghĩa quân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo. Quy mô khá rộng lớn, thời gian giao tranh kéo dài, giằng co, với sự tham gia, ủng hộ của đông đảo nông dân trong vùng và các vùng lân cận. đã nói lên ý chí kiên cường, bất khuất, tinh thần yêu nước nồng nàn của nhân dân ta. Sự thất bại không thể tránh khỏi của các phong trào này không phải là thất bại của tinh thần yêu nước, ý chí vươn lên dành độc lập dân tộc, mà là thất bại của chủ nghĩa yêu nước phong kiến. Các cuộc khởi nghĩa này là sự vùng dậy mạnh mẽ cuối cùng của chủ nghĩa yêu nước phong kiến.

Bên cạnh và tiếp theo phong trào đấu tranh của các quan lại triều đình phong kiến, các cuộc khởi nghĩa nông dân của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám . là các cuộc khởi nghĩa, bạo động mang tính chất tiểu tư sản.

Đó là vụ Hà Thành đầu độc nhằm đánh úp Hà Nội - chỉ huy sở của thực dân Pháp ở Đông Dương năm 1908 bị thất bại từ trong trứng nước. Đó là cuộc khởi nghĩa Yên Bái với tên tuổi của vị anh hùng Nguyễn Thái Học và những đồng chí của ông.

Thất bại của các cuộc nổi dậy mang tính chất bạo động, là thất bại của phong trào yêu nước và chủ nghĩa yêu nước tiểu tư sản. Thất baị ấy càng hun đúc thêm ý chí tự cường, tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Thất bại ấy cũng khẳng định không thể dành độc lập dân tộc với sự nổi dậy tự phát, theo lập

trường phong kiến, nông dân và tiểu tư sản. Vấn đề còn lại là dành độc lập theo con đường nào?

3.2. Phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp, nhằm mục đích dành độc lập dân tộc theo lập trường tư sản

Sau các sự kiện thất bại của phong trào Cần Vương, của các cuộc khởi nghĩa nông dân và các cuộc bạo động tiểu tư sản, một phong trào mới, với một nhãn quan mới du nhập từ bên ngoài vào Việt nam đã xuất hiện và phát triển với một quy mô rộng lớn, trong phạm vi cả nước. Lực lượng lãnh đạo phong trào này là các sỹ phu - trí thức yêu nước theo lập trường tư sản, với mục đích xây dựng nước cộng hoà tư sản ở Việt Nam. Tiêu biểu là các phong trào dưới đây:

Một là, phong trào Đông Du do hoàng thân Cường Để, cụ Phan Bội Châu và nhiều nhà yêu nước khác khởi xướng vào năm 1905 sau chiến thắng của Nhật Bản đối với Nga Hoàng.

Hai là, sự ra đời của Đông kinh nghĩa thục vào năm 1907 do cụ Lương Văn Can làm thục trưởng nhằm nâng cao kiến thức, hun đúc tinh thần yêu nước cho tầng lớp thanh thiếu niên Việt Nam.

Ba là, phong trào duy tân do nhà cách mạng Phan Châu Trinh khởi xướng năm 1907, chủ trương cắt tóc ngắn, hô hào dùng hàng nội hoá để kích thích sản xuất trong nước...

Bốn là, cuộc biểu tình kháng thuế tại các tỉnh miền trung vào tháng 3/1908 khiến nhiều nhân sĩ yêu nước bị bắt giữ, tù đầy, sát hại.

Năm là, tổ chức Việt Nam quang phục hội ra đời 1912, tôn chỉ là đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam, thành lập Cộng hoà dân chủ Việt Nam...

3.3. Phong trào Tân thư và sự xuất hiện xu thế tìm đường cứu nước mới, theo lập trường của giai cấp công nhân

3.3.1. Phong trào Tân thư và các thế hệ trí thức Tân thư - Lược khảo phong trào Tân thư:

“Tân thư” có nghĩa là “sách mới”, “tân học”, là nộ i dung học và cách học mới. Nộ i dung giới thiệu các tư tưởng mới của Âu, Mỹ. Bản chất của Tân thư là một hiện tượng tư tưởng, văn hoá, lịch s ử, chính tr ị, kinh tế... Tân thư vào xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Tân thư là tên gọi chung các loại sách báo xuất hiện ở Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Điều cần lưu ý là trong tân th ư, ngoài sách báo, tài liệu và ấn phẩm tư sản, dân chủ tư sản, còn có cả những tài liệu, sách báo chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, nhất là chủ nghĩa Mác - Lênin, tài liệu về phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và về sau là phong trào cộng sả n...

Tân thư là một hiện tượng chung của các nước Châu Á bấy giờ trước nguy cơ bành trướng của chủ nghĩa tư bản phương Tây. Nó là một tập hợp mang tính ứng dụng thực tiễn. Phong trào Tân thư có xuất phát điểm cơ bản là yêu cầu độc lập và tự cường dân tộc. Nhật Bản là nhịp cầu chuyển tải tư tưởng và văn minh phương Tây vào phương Đông. Song do hoàn cảnh mỗi nước khác nhau, nên sự du nhập và ảnh hưởng của loại sách mới này đối với mỗi nước cũng khác nhau.

- Các th ế hệ trí th ức trong phong trào Tân th ư ở Việt Nam:

Thế hệ những năm 1862, cuối thế kỷ XIX:

Thời kỳ thực dân Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam bộ, mở đầu cho sự thâm nhập của văn minh phương Tây một cách cưỡng chế. Thế hệ này có các nhà cải cách, những sĩ phu yêu nước như Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú

Thứ, Đặng Huy Trứ, Vũ Phạm Khải... Họ mơ ước một thứ Minh trị duy tân của Nhật Bản. Do hạn chế lịch s ử họ đã thất bại ngay trong dự định.

Thế hệ tân thư thứ hai, Đông kinh nghĩa thục từ 1907

Đây là thế hệ nh ững sĩ phu yêu nước tư sản hoá của Việt Nam. Họ chiụ ảnh hưởng mạnh mẽ của Tân thư Trung Hoa, tiêu biể u nh ư Phan Bộ i Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Th ượng Hiền, Trần Quý Cáp...Họ muốn tiến hành cải cách ôn hoà, lấy việc khai hoá , mở mang dân trí làm phương châm cơ bản. Chủ tr ương cải cách tận gốc bộ máy phong ki ến đã mục nát bằng s ự giúp đỡ của Chính phủ Pháp, coi họ như trọng tài vô tư, cuối cùng đòi Pháp trao trả lại độc lập cho Việt Nam. Hoặc cách mạng bạo động, nhưng lúc đầu lại cầu viện Nhật Bản... để đánh đuổi Pháp giành độc lậ p dân tộc. Thế hệ này tiếp thu tư tưởng tư sản, là thứ vũ khí vay mượn, khô ng phả i được hình thành và đúc kết t ừ cuộc đấu tranh chống phong kiế n của chính họ, nên không tránh khỏi phiến diện, tiêu cực và không triệt để.

Thế hệ Tân thư th ứ ba, 1925

Thế hệ những sĩ phu yêu nước chịu lột xác thực sự một lần nữa để vươn tới hệ tư tưởng tiên tiến của thời đại. Từ chỗ say sưa với chủ thuyết Tam dân và cách mạng Tân Hợi, đã nhanh chóng tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, sớm trở thành người cộng sản. Tiêu biểu cho thế hệ này là Nguyễn Ái Quốc.

3.3.2. Ảnh hưởng của Tân thư đối với sự phát triển tư tưởng dân tộc Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

Nhờ Tân thư mà ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã có sự đổi mới về tư tưởng, trong đó diễn ra sự biến đổi nhận thức về tiến hoá xã hội, về vai trò của khoa học kỹ thuật và về vai trò của người dân... Từ đó dấy lên

phong trào duy tân sôi nổi. Phong trào gồm ba mặt: giáo dân (giáo dục dân), dưỡng dân (làm cho dân giàu có), và tân dân (làm cho dân đổi mới).

Giáo dân bằng biện pháp mở trường dạy học, dậy kiến thức mới, giáo dục lòng yêu nước... chống lối học khoa cử theo nếp cũ. Nhiều trường học đã ra đời, trong đó Đông kinh nghĩa thục là trường nổi tiếng nhất.

Dưỡng dân bằng việc mở mang công, thương nghiệp, cổ động dùng hàng nội, lập các hội buôn, các nông hội, các công ty... Những nhà công thương nghiệp đầu tiên là những nhà đã đọc Tân thư.

Tân dân bằng tuyên truyền cổ động, giảng sách, bình văn, diễn thuyết.

Đánh giá lại các di sản của quá khứ, đặc biệt là Nho giáo, phê phán hủ tục, bài bác hủ nho, dùng chữ quốc ngữ, thực hiện phong tục phương Tây...

Phương tiện tuyên truyền là sách giáo khoa của Đông kinh nghĩa thục; lợi dụng báo chí và sáng tác thơ ca hò vè truyền miệng cho nhau.

Trong các tài liệu tuyên truyền của Đông kinh nghĩa thục có hai tài liệu rất đáng chú ý đó là “Tân đính luân lý giáo khoa”: khẳng định sự cần thiết của môn luân lý đạo đức, coi đó là tinh hoa của quốc thể, nguồn gốc của giáo dục và “Văn minh tân học sách”. Đây là tác phẩm điển hình về sự vận dụng hệ tư tưởng tư sản mà các nhà nho tiếp thu được qua Tân thư. Nó có ý nghĩa như một cương lĩnh chính trị của Đông kinh nghĩa thục và phong trào nghĩa thục ở các địa phương. Luận điểm cơ bản của tác phẩm Văn minh tân học sách là tình trạng dã man hay văn minh của một nước do trình độ dân trí quy định. Vì vậy muốn tiến lên văn minh thì phải nâng cao dân trí. Ngược lại càng văn minh thì dân trí càng cao. Dựa vào luận điểm đó ông cha ta lần lượt xem xét tình trạng thực tế của văn minh dân trí Việt Nam, tìm ra nguyên nhân của tình trạng ấy và đưa ra các biện pháp cần phải tiến hành.

Tân thư và những cách nhìn mới đối với vấn đề nguyên nhân vì sao ta mất nước, vì sao dân trí ta thấp hèn, vì sao ta từ chủ hoá ra nô lệ... các cụ đã rút ra rằng từ thế kỷ XVIII, văn minh phương Tây cao hơn văn minh phương Đông, ấy là nhờ sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Tây phương tiến nhanh còn Đông phương thì dậm chân tại chỗ hay tiến rất chậm, nên tụt lại đằng sau, trở nên yếu hơn dễ dàng bị đánh bại. Họ mạnh họ thắng vì văn minh họ “động”. Ta yếu ta thua vì văn minh ta “tĩnh”. Để chứng minh cái tĩnh của văn minh Việt Nam so với cái động của văn minh phương Tây, Văn minh tân học sách đã phân tích năm giới (năm lĩnh vực):

Giới tư tưởng của các nước Tây Âu trên có nghị viện duy trì kỷ cương, dưới có báo chí để phản ánh những mong muốn của dân. Đại trước tác có “Dân ước luận” của Rutxô (1712 - 1778), “Tiến hoá luận” của Herbert Spencer (1820 - 1903), “Dân quyền thiên” c ủa Môngtexkiơ (1689 - 1755) cốt để phát huy cái chủ nghĩa yêu nước thương nòi. Còn nước ta làm văn sách thì e bị phạm huý, dâng thư cho người trên chỉ sợ vượt phận nói leo... Văn hoá loè loẹt thì có, còn mở mang trí khôn thì không hề có gì. Đó là điều trái ngược về giới tư tưởng.

Giới giáo dục, người Châu Âu chia giáo dục làm ba bậc: Tiểu, trung, đại học cứ bốn năm là một cấp. Khi đã học mãn khoá lần bậc tiến lên. Học theo ngành nghề, học thành tài rồi mới dùng, làm được việc thì mới thăng chức. Còn ở ta những môn ta học và nhớ chỉ là sách Tầ u, là lờ i nói cổ nhân, những thứ ta thi chỉ là kinh nghĩa... Đó là điều trái với người Tây về giáo dục.

Giới kinh tế (tức là chính trị của một nước). Người châu Âu tổ chức chính quyền trong nước có chính thể lập hiến, có chính thể quân dân cộng hoà.

Cứ số bao nhiêu người dân thì cử một người làm nghị viện. Hễ bàn đến một việc gì, thì trước hết phải khai hội, kẻ bàn người nói, sửa đi sửa lại cốt làm cho

Một phần của tài liệu Lịch sử tư tưởng việt nam (Trang 117 - 130)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(140 trang)