Nét chính về hoàn cảnh lịch sử xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII

Một phần của tài liệu Lịch sử tư tưởng việt nam (Trang 87 - 91)

Chương 1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨUĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

I. Nét chính về hoàn cảnh lịch sử xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII

Từ đầu thế kỷ XVIII cho đến năm 1786 đất nước ta vẫn chia làm hai miền, Đàng trong của chúa Nguyễn, Đàng Ngoài của chúa Trịnh, nhà Lê suy thoái dựa và nhà Trịnh để tồn tại.

Ở Đàng Ngoài, nông nghiệp và kinh tế hàng hoá gặp nhiề u khó khăn, ruộng đất công nhiều nơi bị thu hẹp lại, nông dân phiêu bạt nhiều nơi, thiên tai xảy ra liên tiếp, nạn đói trầm trọng, mâu thuẫn giai cấp sâu sắc đưa tới các cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra liên tiếp, nhưng tất cả đều thất bại, bị triều đình Lê - Trịnh dìm trong biển máu.

Đàng Trong cho đến cuối những năm 60, mặc dù kinh tế có kém phát triển hơn trước, nhưng các đô thị Hội An, Sài Gòn vẫn duy trì hoạt động, xã hội tạm ổn định. Các quan hệ kinh tế hàng hoá - tiền tệ vẫn tiếp tục phát triển dù có chậm. Nhưng cũng từng bước tạo ra những xung đột đòi hỏi sự thống nhất về kinh tế và quan hệ kinh tế thông thương giữa các miền của đất nước.

Từ thế kỷ XVII kinh tế hàng hoá đã phát triển, sang thế kỷ XVIII càng phát triển mạnh hơn, tầng lớp thị dân và nửa thị dân tăng lên nhanh chóng, đã đòi hỏi có sự chuyển biến về mặt nhận thức và ý thức. Nho giáo không đáp ứng được yêu cầu này. Nhiều nhà Nho phản ứng gay gắt với các quan hệ hàng hoá tiền tệ đang phổ biến trong xã hội đương thời. Họ cho rằng chính đồng tiền đã làm thay đổi các quan hệ nhân luân, đạo đức cổ truyền và cả trật tự xã hội, nên trong tư tưởng họ sự tồn tại của các quan hệ kinh tế này là không hợp lý. Điều

đó chứng tỏ rằng họ chưa nhận thức được quan hệ hàng hoá - tiền tệ đang trở thành một tất yếu khách quan của xã hội.

2. Tình hình chính trị

Trong thế kỷ XVII và những năm đầu thế kỷ XVIII, dù không xảy ra các cuộc đấu tranh bạo động. Nhưng đó chỉ là sự lắng dịu tạm thời chuẩn bị cho sự vùng lên mạnh mẽ của nông dân trước hoàn cảnh đất nước tiếp tục bị chia cắt, kìm hãm sự phát triển kinh tế và trái ngược với nhu cầu lợi ích thống nhất giang sơn của đông đảo nhân dân và cộng đồng các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam thống nhất.

Khi phong trào của nông dân Đàng Ngoài tạm lắng xuống, thì nông dân Đàng Trong lại nổi lên khởi nghĩa. Từ năm 1771, phong trào Tây Sơn được tập hợp dưới ngọn cờ của ba anh em Nguyễn Nhạc - Nguyễn Huệ - Nguyễn Lữ và nhiều người khác gồm các dân tộc vùng Tây Nguyên lan rộng khắp nơi. Phong trào Tây Sơn là sự kết hợp giữa đấu tranh giai cấp và đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc trong điều kiện các tập đoàn phong kiến ra mặt phản nhân dân, phản dân tộc. Chính sự kết hợp giữa giai cấp và dân tộc tạo nên sức mạnh của phong trào Tây Sơn.

Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nhanh chóng lật đổ chúa Nguyễn (1775), tiêu diệt quân Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Mút (1785) rồi nhanh chóng mở rộng ra toàn quốc lật đổ chính quyền Lê - Trịnh (1788) và tiêu diệt quân Mãn Thanh ở Ngọc Hồi Đống Đa (1789).

Phong trào Tây Sơn là sự kết hợp giữa đấu tranh giai cấp, đấu tranh giành cơm áo chống áp bức bóc lột và đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc. Do đó, đã tạo nên sức mạnh to lớn và thắng lợi nhanh chóng, triệt để. Sự phát triển của phong trào đã tác độnh mạnh mẽ đến tầng lớp sĩ phu Bắc Hà và những người thức thời

đã từ bỏ chính quyền Lê - Trịnh hợp tác đắc lực với nhà Tây Sơn như Trần Văn Kỷ, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích...Do hạn chế về mặt giai cấp, các thủ lĩnh của phong trào Tây Sơn sau khi giành được thắng lợi, lại xác lập vương triều phong kiến. Nguyễn Nhạc thành vua Thái Đức, Nguyễn Huệ thành Hoàng đế Quang Trung... Nhà nước phong kiến Tây Sơn, mà hầu hết xuất thân là nông dân, không có trình độ cần thiết về quản lý hành chính, xã hội, lại nắm những cương vị chủ chốt ở triều đình và các địa phương, do đó năm 1792 khi Quang Trung mất các Nho thần Bắc Hà như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích không còn được tin dùng. Họ trở ra Bắc hoặc về quê kiếm sống. Tất cả những điều đó đã làm cho nhà Tây Sơn suy yếu nhanh chóng và bị thế lực của Ngyễn Ánh đánh bại năm 1802.

3. Tình hình văn hoá - xã hội

Sang thế kỷ XVIII Phật giáo tiếp t ục được hồ i phục và phát triển. Vùng đồng bằng sông Hồng không có làng nào là không có chùa. Chính quyền cũng quan tâm đến việc xây chùa, truyền đạo... khiến cho Phật giáo phát triển. Đạo giáo trong thế kỷ XVIII cũng được truyền bá rộng rãi, nhiều đạo quán được xây dựng... Thiên chúa giáo được truyền bá vào nước ta từ thế kỷ XVI, đến thế kỷ XVIII có điều kiện để mở rộng. Song tôn giáo mới này đọan tuyệt với tín ngưỡng truyền thống và một số giáo sĩ, ngoài hoạt động tôn giáo còn hoạt động chính trị, gây bất bình trong xã hội. Chính quyền hai miền đã có lúc phải cấm đạo và trục xuất giáo sĩ.

Thế kỷ XVIII có nhiều tác phẩm lớn ra đời có tác giả lẫn khuyết danh như: Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, Tống Trân Cúc Hoa... Đặc biệt là cuốn truyện Kiều của Nguyễn Du xuất hiện vào đầu thế kỷ XIX. Các tác phẩm này tiêu biểu cho văn học cổ điển Việt Nam.

Cùng với hoạt động văn hoá là hoạt động khoa học, nhiều bộ lịch sử, sách địa lý, y học... đã ra đời cung cấp nhiều kiến thức mới mẻ về lịch sử, xã hội, đất nước, cho dân tộc đương thời.

Bên cạnh đó, tín ngưỡng bản địa phát triển đa dạng, ngườ i ta thờ nhiều thần hơn trước. Thần là các hiện tượng tự nhiên mây, mưa, sấm, chớp, sông núi, cây cối...Thần là nhân thần: tổ tiên, anh hùng dân tộc, những người có công khai hoang lập ấp... lại có cả thần ăn mày, gắp phân... Bản thân con người thì có thần hộ mệnh.

Ở thế kỷ XVIII cũng có hai quan điểm về động lực lịch sử. Quan điểm của Ngô Thì Nhậm tuy chưa phải là duy vật và vô thần, nhưng thể hiện ý thức coi lòng dân là động lực, được lòng dân thì vận tốt sẽ tới. Lê Quý Đôn thì coi trọng lòng dân “dân là nước, gốc vững thì nước mới yên”. Còn quan điểm của Ngô Thì Sĩ cho ý trời thể hiện ở lòng dân, kiểu thiên nhân cảm ứng, mang tính chất duy tâm tôn giáo.

Sự phát triển liên tục chế độ khoa cử từ th ế kỷ XV về sau, đã tạo ra một tầng lớ p Nho s ĩ lâu đờ i và đông đảo. Thông qua khoa cử Nho sĩ tiến thân vào hàng ngũ quan liêu..., hậu quả là tư tưởng sùng bái thi cử, sùng bái chức vị nảy nở và phát triển, chất lượng giáo dục giảm sút, bị người đời chê là nông cạn, giáo điều, sáo rỗng. Tầng lớp Nho sĩ lại có sự phân hoá về địa vị và quyền lợi.

Nho sĩ lớp trên tham gia bộ máy hành chính, Nho sĩ lớp dưới là các thầy giáo, thầy thuốc, thầy bói, thầy địa lý... họ sống ở nông thôn và giữ vai trò quan trọng trong giáo dục, y tế... ở đây.

Hàng ngũ quan lại trong bộ máy chính quyền, về con người cụ thể thì thường xuyên thay đổi, nhưng về tư tưởng quản lý, trên cơ sở Nho giáo thì duy trì tính tuân thủ đến bảo thủ. Tư tưởng bảo thủ đã làm giảm mạnh khả năng tự

điều chỉnh của các tập đoàn phong kiến quan liêu, trở thành vật cản đối với sự phát triển của xã hội.

Các tác phẩm văn học tiêu biểu đã phản ánh nhiều c ảnh ngộ éo le của con người, thể hiện những khát vọng về tình yêu, về lẽ sống, về đạo làm người, đồng thời cũng đề cập đến những suy nghĩ nhằm giải quyết các vấn đề của nhân sinh và xã hội.

Một phần của tài liệu Lịch sử tư tưởng việt nam (Trang 87 - 91)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(140 trang)