Những nhà tư tưởng tiêu biểu của thời kỳ này

Một phần của tài liệu Lịch sử tư tưởng việt nam (Trang 55 - 60)

Chương 1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨUĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

II. Những nhà tư tưởng tiêu biểu của thời kỳ này

1. Lý Thường Kiệt - Nhà tư tưởng Việt Nam vĩ đại thời kỳ nhà Lý

1.1. Sơ lược về tiểu sử

Lý Thường Kiệt (1019 - 1105) sinh ra trong một gia đình quan võ đương triều là Ngô An Ngữ. Tuổi nhỏ tên ông là Tuấn, tư chất thông minh, ham đọc sách và luyện tập võ bị. Năm 23 tuổi, do tính siêng năng, cần mẫn lại trung thành nên được nhà vua thăng chức và đổi sang họ vua, lấy tên là Lý Thường Kiệt. Ông có công giúp vua nhà Lý đánh bại quân xâm lược Chiêm Thành, quân xâm lược nhà Tống, đồng thời có công xây dựng tổ quốc. Bài thơ “Nam quốc sơn hà” - bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Đại Việt được vang lên từ phòng tuyến sông Như Nguyệt đã động viên khí thế của toàn quân đánh giặc và làm cho quân giặc khiếp sợ.

1.2. Nội dung tư tưởng của Lý Thường Kiệt

Trước hết là t ư tưởng đoàn kết toàn dân, vận d ụng linh hoạt các hình thức đánh giặc để chuyển từ phòng ngự sang phản công giành thắng lợi hoàn toàn. Đánh giặc trên mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao khôn khéo để chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, nâng cao địa vị quốc gia với các nước láng giềng. “Nam quốc sơn hà” - bài thơ bất hủ của Lý Thường Kiệt, là một lời tuyên bố đanh thép. Bản tuyên ngôn độc lập khẳng định nền độc lập dân tộc, một sự cảnh cáo nghiêm khắc đối với giặc ngoại xâm, đồng thời biểu thị nềm tin vô hạn vào khả năng tất thắng của dân tộc trong sự nghiệp giữ nước, bảo vệ nền độc lập tự chủ của mình.

Lý Thường Kiệt một anh hùng dân tộc, nhà quân sự kiệt xuất có tài thao lược, tầm chính trị - ngoại giao xuất sắc đã đóng góp vào sự phát triển nền khoa học quân sự, chiến tranh nhân dân của Việt Nam.

2. Trần Quốc Tuấn- nhà tư tưởng quân sự thiên tài

2.1. Sơ lược về tiểu sử

Hưng đạo vương Tr ần Quốc Tuấn (1228 - 1300) là con trai Tr ần Liễu (anh ruột Trần Cảnh - Trần Thái Tông). Sử chép rằng lúc nhỏ ông dung mạo và ý chí khác thường, lớn lên khôi ngô tuấn tú, thông minh hơn người, xem rộng biết nhiều, đủ tài văn võ. Ông còn là người đức độ, quý trọng nhân tài và để lại cho đời nhiều tác phẩm nổi tiếng như Hịch Tướng Sĩ, Binh thư yếu lược và Vạn kiếp tông bí truyền thư. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, ông đã biểu thị một tinh thần quyết chiến quyết thắng.

Trần Quốc Tuấn không những là người có công lao đưa cuộc chiến tranh giữ nước thời Trần đi đến thắng lợ i, mà bằng tư tưởng chính trị và quân sự thiên tài, ông đã có những cống hiến quan trọng vào sự phát triển của lịch s ử tư tưởng Việt Nam. Những tư tưởng ấy không những phản ánh quy luật chiến tranh giữ nước thời Trần, mà còn có ý nghĩa phổ biến cho mọi cuộc chiến tranh giữ nước về sau ở nước ta.

1.2. Nội dung tư tưởng của Trần Quốc Tuấn

Trước hết là tư tưởng về chiến tranh nhân dân trong sự nghiệp chiến tranh giữ nước, bảo vệ tổ quốc. Nhân dân là gốc của mọi lực lượng, là cơ sở để tiến hành chiến tranh giữ nước. Vì vậy phải thực hiện đại đoàn kết toàn dân, cả nước chung sức đánh giặc. Trần Quốc Tuấn thường nói “Lòng dân không chia”, “Vua tôi đồng lòng, anh em hoà mục, cả nước giúp sức, giặc tự bị bắt”. Thực hiện đoàn

kết toàn dân, huy động sức mạnh vật chất và tinh thần của dân trong công việc giữ nước thì phải thi hành chính sách “khoan thư sức dân”.

Tư tưởng đại đoàn kết toàn dân, “lòng dân không chia”, “cả nước góp sức” là cơ sở, nền tảng cho việc xây dựng quân đội thường trực. Ông nêu lên nguyên tắc xây dựng quân đội là: chất lượng, sự đoàn kết nhất trí, chung sức chung lòng của quân sĩ.

Trong xây dựng quân đội, chỉ đạo cuộc chiến tranh giữ nước, Trần Quốc Tuấn rất coi trọng yếu tố tinh thần, coi trọng giáo dục tư tưởng, ý chí ngoan cường, quyết thắng, trung nghĩa. Ông coi trọng giáo dục đạo đức, nêu lên những giá trị đạo đức như: anh hùng, vinh quang, xả thân vì nước, biết căm thù quân xâm lược, phê phán tư tưởng cầu an hưởng lạc. Những giá tr ị đạo đức gắn với chiến công diệt giặc giữ nước đã trở thành quy phạm, chuẩn mực đạo đức của xã hội đương thời.

Trần Quốc Tuấn là sự kết tinh trí tuệ của cả dân tộc quyết tâm kháng chiến bảo vệ nền độc lập, chủ quyền của đất nước. Với tư cách là tổng chỉ huy, ông đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Nguyên ba lần đều giành thắng lợi. Bằng những tư tưởng chính trị quân sự thiên tài, ông đã có những cống hiến quan trọng vào sự phát triển của lịch sử tư tưởng Việt Nam.

III. Nhận xét chung

Thứ nhất: Bước sang thời kỳ độc lập tự chủ, Phật giáo có một vị trí quan trọng trong xã hội Việt Nam: nơi đào tạo tăng sư - tầng lớp trí thức đầu tiên của dân tộc, các nhà sư được sử dụng trong bang giao, trong hoạch định đường lối...

Nhiều tăng sư xuất thân từ tầng lớp quý tộc, ngay một số nhà vua thời Lý, Trần cũng đi tu... Vì vậy thời kỳ này Phật giáo nói chung rất thịnh, nhưng ngày càng

bộc lộ những hạn chế của nó đối với yêu cầu đất nước. Cho nên nó phải lùi dần khỏi lĩnh vực hoạt động chính trị.

Thứ hai: Nho giáo từ thế kỷ X đến XIV tuy chưa thịnh nhưng từ nhà Lý tầng lớp nho sĩ đã trở thành một lực lượng xã hội đông đảo và Nho học đã thực sự đi vào lĩnh vực chính trị ngày một vững chắc, vì nó cung cấp những căn cứ về lý luận và kinh nghiệm quản lý nhà nước cho bộ máy chính quyền. Đến giữa thế kỷ XIV các nhà Nho đã lên tiếng bài xích, phê phán Phật giáo một cách công khai.

Thứ ba: Từ thế kỷ X đến XIV, thời kỳ mở đầu cho kỷ nguyên độc lập, tự chủ của đất nước. Trong thời kỳ này nhân dân ta đã đạt được những thành t ựu hết sức to lớn về mọi mặt, đặc biệt có những chiến công hiển hách trong chiến tranh chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập của Tổ quốc. Trên nền tảng đó, tư tưởng Việt Nam đã phát triển với một sinh khí mới, có nhiều sáng tạo về tư tưởng, chứng tỏ một trình độ nhận thức sâu sắc và phong phú về những vấn đề chính trị - xã hội, về thế giới khách quan và về con người. Tư tưởng chính trị thời kỳ này thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước, tinh thần tự lực tự cường. Nội dung chủ yếu là khẳng định độc lập và chủ quyền của đất nước, đoàn kết toàn dân, động viên nhân dân tham gia xây dựng và bảo vệ đất nước, kiện toàn bộ máy nhà nước phong kiến để đáp ứng yêu cầu tổ chức và điều hành công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, cũng như củng cố và bảo vệ lợi ích của giai cấp phong kiến Việt Nam. Những nhà tư tưởng tiêu biểu đương thời đã giải đáp được yêu cầu của đất nước và đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa phổ biến cho cả giai đoạn sau.

Thứ tư: ý nghĩa lịch sử của sự phát triển tư tưởng Việt Nam trong thời kỳ đầu thế kỷ X đến thế kỷ XIV là ở chỗ, nó đã có nhiều cống hiến so với thời kỳ trước và tạo nên cơ sở cho sự phát triển tiếp tục về sau.

CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN

1. Tóm lược hoàn cảnh kinh tế - xã hội, chính trị -xã hội nước ta từ thế kỷ X - XIV.

2. Trình bày tóm tắt tiểu sử, sự nghiệp và tư tưởng của Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn và các danh nhân khác thời kỳ thế kỷ X - XIV (Sinh viên, học viên sưu tầm tài liệu để làm phong phú nội dung này )

3. Phân tích các nội dung cơ bản của tư tưởng Việt Nam thời kỳ thế kỷ X - XIV, sự đồng nhất, khác biệt của các nội dung ấy trong tư tưởng của Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn.

Chương 5

TƯ TƯỞNG VIỆT NAM THỜI KỲ CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN HƯNG THỊNH (THẾ KỶ XV)

Một phần của tài liệu Lịch sử tư tưởng việt nam (Trang 55 - 60)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(140 trang)