Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam thế kỷ XIX

Một phần của tài liệu Lịch sử tư tưởng việt nam (Trang 102 - 106)

Chương 1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨUĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

I. Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam thế kỷ XIX

1.1. Triều Nguyễn - triều đại phong kiến cuối cùng được thành lập

Cuối thế kỷ XVIII, Nguyễn Ánh nhờ sự giúp đỡ của tư bản Pháp... đã chiếm được Nam kỳ làm căn cứ. Vua Quang Trung đang chuẩn bị tiến công tiêu diệt quân Nguyễn Ánh, thì bị chết đột ngột (29/7/1792), nên không thực hiện được. Quang Toản mới 10 tuổi và nội bộ lục đục. Vì vậy năm 1800 Nguyễn Ánh đánh chiếm Quy Nhơn, năm 1801 đánh ra Phú Xuân, Quang Toản phải chạy ra Bắc Hà và năm 1802 Nguyễn Ánh tập trung lực lượng đánh chiếm kinh đô Thăng Long, cuối cùng đã thắng và lập ra triều Nguyễn.

Triều Nguyễn là một vương triều phong kiến được dựng lên bằng một cuộc chiến tranh phản cách mạng, nhờ thế lực xâm lược của nước ngoài... Đó là một vương triều phản động, tập trung tuyệt đối, chuyên chế cực đoan. Vua thay trời trị dân nắm tất cả quyền hành. Luật pháp thì nghiệt ngã, trừng trị thì tàn bạo và bất công. Bọn tham quan ô lại hoành hành. Kinh tế thì sa sút, lạc hậu, đình đốn, đời sống nhân dân cực khổ... Những cuộc khởi nghĩa nông dân liên tục nổ ra khắp Trung, Nam, Bắc...

1.2. Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam

Âm mưu xâm lược, thôn tính Việt Nam nhằm mở rộng thuộc địa đã được các thế lực thực dân Phương Tây và Thực dân Pháp toan tính từ lâu. Sau một thời gian chuẩn bị về mọi mặt cần thiết, ngày 1 tháng 9 năm 1858, liên quân Pháp - Tây ban nha nổ súng đánh chiếm các tiền đồn trên biển và sau đó đổ bộ đánh chiếm Đà Nẵng. Sau khi không thể thực hiện chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh, tháng 2 năm 1859, để lại một bộ phận quan lính chiếm giữ Đà Nẵng, còn đại binh chuyển vào phía Nam đánh chiếm thành Gia Định. Mặc dầu đã chiếm được thành nhưng không thể trụ lại do sự chống trả của quân đội và nhân dân ta, thực dân Pháp buộc phải tạm rút lui. Tháng 2 năm 1861 quân Pháp trở lại đánh chiếm Gia Định, đồng thời đánh chiếm các tỉnh Định Tường, Biên Hoà, Vĩnh Long... Mặc dù quan lính và nhân dân ta ở Nam Bộ chống lại rất ngoan cường, song do lực lượng chênh lệch, lại do thái độ bạc nhược của nhiều quan lại triều đình nhà Nguyễn, liên tục các bản hoà ước, mà thực chất là đầu hàng đã được chính quyền phong kiến nhà Nguyễn chấp nhận.

Ngày 5 tháng 2 năm 1862, triều đình nhà Nguyễn chấp nhận cắt 3 tỉnh miền Đông cho giặc Pháp; ngày 25 tháng 8 năm 1883, Triều Nguyễn chấp nhận toàn bộ các điều ước do Cao uỷ Pháp Acmăng chuyển tới với các nội dung:

thừa nhận quyền cai trị của thực dân Pháp trên phạm vi toàn quốc; kinh đô Huế và triều đình nhà Nguyễn được tồn tại với sự bảo hộ của Chính phủ Pháp;

Chính phủ Pháp nắm giữ toàn bộ các chính sách về kinh tế, chính trị và ngoại giao của Việt Nam;

Ngày 6 tháng 6 năm 1884, Triều đình nhà Nguyễn ký Hoà ước Patơnôt, công nhận toàn bộ các điều ước Ac măng.

Với việc chấp nhận các điều ước Ac măng và ký hoà ước Patơnôt, Triều đình nhà Nguyễn đã sụp đổ hoàn toàn trên thực tế, nước ta tan rã hoàn toàn và trở thành thuộc địa, nô lệ của thực dân Pháp.

1.3. Nhân dân Việt Nam chống xâm lược

Với truyền thống yêu nước, tinh thần tự cường, ý thực về độc lập và chủ quyền dân tộc, nhân dân ta đã anh dũng đứng lên đấu tranh chống lại sự xâm lược của Thực dân Pháp.

Theo thống kê của các nhà sử học, trong thời kỳ triều Nguyễn, đã có tới 500 cuộc khởi nghĩa nổ ra. Trong đó, riêng dưới triều Gia Long có 90 cuộc.

Tiêu biểu là: Cuộc khởi nghĩa của Ngô Văn Tuyết, một viên tướng dưới triều Tây Sơn ở Kinh Môn năm 1803; Khởi nghĩa của nông dân Giao Thuỷ, Nam Định, năm 1821; Khởi nghĩa của nông dân ở Bạch Hạc, Vĩnh Phúc - Phú Thọ, năm

1833; Khởi nghĩa Cao Bá Quát năm 1854...

Tất cả các cuộc khởi nghĩa trên đây dù thất bại, nhưng là sự chuẩn bị cho những cuộc khởi nghĩa lớn hơn, hun đúc thêm tinh thần yêu nước, ý chí dân tộc độc lập, tự chủ - một trong những giá trị cơ bản và nổi bật của tư tưởng Việt Nam.

2. Tình hình kinh tế

Sau nhiều năm chiến tranh loạn lạc, dân cư nhiều nơi phải ly tán, chính quyền nhà Nguyễn nhận thấy cần có chính sách mới để quản lý ruộng đất, tư liệu sản xuất cơ bản và chủ yếu của nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước Việt Nam. Năm 1803, Vua Gia Long cho tiến hành đo đạc lại ruộng đất. Sau đó cho ban hành chính sách quân điền vào năm 1804. Đến năm 1831, Vua Minh Mạng tiếp tục cho áp dụng chính sách ấy. Tuy nhiên, chính sách quân điền đã không thể thực hiện trọn vẹn bởi thiết chế làng xã với phong tục “phép vua thua lệ làng”. Ruộng đất vẫn nằm trong tay địa chủ, các quan lại phong kiến ở cơ sở.

Người dân nghèo vẫn không có ruộng, phải đi ở, làm thuê mướn cho các chủ ruộng đất.

Bên cạnh đó, chủ trương trị thuỷ và thuỷ lợi, một vấn đề trọng yếu của nông nghiệp trồng lúa nước cũng được triều đình chú ý. Tuy nhiên, do yếu kém

của chính quyền phong kiến, do nạn quan liêu, chỉ lo vơ vét làm giàu của quan lại chính quyền làng xã, tông... chủ trương này cũng lại không được thực hiện là bao. Song nhìn chung, nền kinh tế nông nghiệp vẫn có những bước phát triển do sự cần cù kiên nhẫn của người nông dân.

Ngành công nghiệp khai thác mỏ cũng đã hình thành. Ngành tiểu thủ công nghiệp cũng vẫn có những khởi sắc. Bên cạnh các ngành thủ công do nhà nước phong kiến quản lý, các nghề thủ công của người dân cũng phát triển, các làng nghề, trung tâm thị tứ, thị trấn cũng hình thành, cùng với sự phát triển của các đô thị lớn có từ trước đó.

Bên cạnh sự phát triển các quan hệ giao lưu buôn bán trong nước, giao lưu buôn bán với nước ngoài cũng đã hình thành, có những phát triển nhất định.

Tuy nhiên, về sau do chủ trương bế quan toả cảng của triều đình nhà Nguyễn, việc buôn bán với nước ngoài có phần bị đình trệ, các thương cảng phát triển chậm chạp.

3. Tình hình văn hoá - xã hội

Sau khi lên ngôi, Gia Long cũng đã cố gắng đề ra một số chủ trương phát triển giáo dục. Nhưng phải đến năm 1822, Khoa thi Hội đầu tiên mới được tô chức. Các kỳ thi dưới triều Nguyễn cũng không được tô chức một cách định kỳ.

Văn chương chữ Hán dù vẫn phát triển nhưng không còn chiếm ưu thế như trước đây. Văn học dân gian phát triển mạnh với nhiều thể loại phong phú đa dạng: thơ lục bát, ca dao, thơ song thất lục bát, văn thơ chữ nôm phát triển mạnh. Cùng với văn chương, văn học, khoa học lịch sử và khoa học xã hội cũng bắt đầu phát triển đáp ứng các nhu cầu nhận thức, bàn luận về thế sự, nhân tình thế thái, vận mệnh sơn hà, xã tắc.

Bên cạnh t ư tưởng Nho giáo vố n đã bén r ễ trong xã hộ i từ sớ m, các tôn giáo khác cũng bắt đầu phát triển. Đạo Phật tiếp tục được duy trì và phát triển. Đặc biệt là sự phát triển nhanh của Đạo Thiên chúa... Tất cả điều này đã tác động mạnh đến tâm tư tình cảm và tư tưởng của cộng đồng cư dân Việt Nam, tạo nên những nét riêng, đặc thù cho sự phát triển tư tưởng Việt Nam thế kỷ XIX.

Đứng trước hai nhiệm vụ lịch sử rất trọng đại và cấp bách là: Nhiệm vụ duy tân, nghĩa là phải từ bỏ sự đình trệ phong kiến, để phát triển theo Âu, Mỹ, theo hướng tư bản chủ nghĩa. Hai là bảo vệ dân tộc, chống chủ nghĩa thực dân xâm lược. Hai nhiệm vụ này quan hệ mật thiết với nhau. Vấn đề đặt ra đối với sự phát triển tư tưởng dân tộc là cần phải thực hiện cùng lúc hai nhiệm vụ này.

Công cuộc duy tân tự cường nhằm bảo vệ độc lập dân tộc. Nếu không duy tân hoặc chậm trễ thì sẽ mất nước.

Đối chiếu với thực tiễn xã hội, thực tế lịch sử, ý thức hệ phong kiến thế kỷ XIX, chủ yếu là Nho giáo, chẳng những không còn vai trò tích cực, soi sáng động viên, mà đã trở thành một chướng ngại cản trở sự tiến lên của dân tộc.

Một phần của tài liệu Lịch sử tư tưởng việt nam (Trang 102 - 106)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(140 trang)