Chương 1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨUĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
II. Nét chính về tư tưởng thời kỳ đấu tranh lâu dài giành độc lập dân tộc
1. Sự Hán hoá về tư tưởng, văn hoá
1.1. Sự truyền bá của văn tự Trung Hoa
Trước khi bị phong kiến Trung Hoa xâm lược, người Việt chưa có chữ viết. Trải suốt thời kỳ thống trị của phong kiến Trung Hoa và phong kiến dân tộc, văn tự chính thức được lưu hành ở nước ta là văn tự của người Trung Hoa.
Văn tự Trung Hoa được du nhập vào nước ta từ thời thuộc Hán, nên được gọi là chữ Hán. Văn tự Trung Hoa ngoài việc phục vụ cho nhu cầu hành chính của chính quyền thực dân còn là công cụ quan trọng để truyền bá Nho, Phật, Lão vào nước ta.
1.2. Sự truyền bá Nho giáo
Nho giáo hay Khổng giáo được xây dựng trên học thuyết của Khổng Tử, một nhà triết học Trung Hoa sống vào thế kỷ VI - V (TCN). Trải qua quá trình phát triển lâu dài nên về sau tư tưởng đã khác nhiều so với lúc ban đầu. Tuy nhiên, nó vẫn giữ được những nét chung: Nho giáo không phải là một tôn giáo, cũng không phải là một học thuyết triết học, mà là một học thuyết chính trị - đạo đức. Nó chủ trương dùng nhân trị, đức trị để quản lý xã hội. Những nguyên tắc đạo đức của Nho giáo như tam cương, ngũ thường, ngũ luân vừa là chuẩn mực để điều chỉnh hành vi của con người, vừa là những biện pháp bảo đảm cho chính trị nhân nghĩa được thực hiện. Bản chất của Nho giáo là xây dựng ý thức tôn ti trật tự trong gia đình và xã hội. Trong đó, người dưới phải tuyệt đối phục tùng người trên, thể hiện trong quan niệm về chính danh, định phận, về lễ, nghĩa, trung, hiếu... Nho giáo còn là một học thuyết duy tâm khách quan, thể hiện trong quan niệm mệnh trời, thiên nhân cảm ứng...
Khi mới vào Việt Nam, Nho giáo hoàn toàn không phù hợp với xã hội Văn lang, Âu Lạc, với chế độ lạc hầu, lạc tướng. Mặt khác do bọn thống trị áp đặt nên Nho giáo chỉ phát triển ở những trung tâm chính trị thực dân như Luy Lâu, Long Biên... Số người biết chữ Hán cũng phần lớn chỉ là tăng lữ và một số quan lại làm việc cho chính quyền Hán mà thôi. Nhưng về sau khi nền tảng và cơ cấu xã hội ít nhiều mang tính chất phương Bắc, thì Nho giáo lại là một thứ học thuật, tư tưởng mà người Việt Nam cần tiếp thu, nhất là sau khi đất nước đã giành được độc lập.
1.3. Sự truyền bá đạo giáo
Đạo giáo được xây dựng dựa vào học thuyết của Lão Tử, một nhà triết học Trung Hoa cổ đại (thế kỷ VI - V TCN). Học thuyết về “đạo” của Lão Tử chứa đựng một số yếu tố duy vật, nhưng về sau các đạo sĩ đã phát triển nó theo hướng duy tâm, với rất nhiều tiên, thần, thánh đồng thời chia ra thành đạo giáo
thần tiên và đạo giáo phù thuỷ. Đạo giáo được truyền bá vào Giao Châu trong thời kỳ thuộc Hán. Do thích hợp với tín ngưỡng bản địa (ma thuật, phương thuật...) nên lan tràn nhanh chóng và hoà nhập vào phong tục, lễ hội của nhân dân.
1.4. Sự truyền bá Phật giáo
Phật giáo hình thành ở miền bắc Ấn Độ vào thế kỷ VI - V (TCN) trong vương quốc Kapilastu miền biên giới Nêpan. Điều kiện xã hội lúc đó là thời kỳ mà những mâu thuẫn giai cấp hết sức sâu sắc, nên Phật giáo phản ánh sự bất bình của quần chúng đối với chế độ đẳng cấp hà khắc và quyền uy độc đoán của giai cấp thống trị Bàlamôn.
Quan niệm về thế giới của Phật giáo là cả vũ trụ trời, đất, con người, tuy lớn nhỏ, chủng loại khác nhau nhưng đều là một, đều luôn luôn vận động và biến đổi, không có điểm bắt đầu (vô thuỷ), không có điểm kết thúc (vô chung), không có gì là thường còn, là cố định (vô thường), cũng không có bản thân ta tồn tại mãi mãi, mà cũng vận động trong dòng chảy không ngừng (vô ngã). Sự biến đổi đó là do bên trong, là sự vận động tự thân theo nhân - duyên, theo luật nhân - quả nội tại quy định. Bất cứ một vật nào, ở một thời điểm nhất định vừa là quả vừa là nhân (nghiệp). Sự biến đổi đó diễn ra trong cõi phàm và siêu phàm, mà sự chuyển từ cõi này sang cõi kia như bánh xe quay mãi (luân hồi)...
Quan niệm nhân sinh của Phật giáo cho rằng đờ i người là khổ. Khổ là do con người có sinh thì có già, có bệnh mà chết, do mong muốn mà không đạt được, do yêu thương nhưng phải xa lìa, do ghét nhau lại phải sống cạnh nhau, do ngũ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức) che lập trí tuệ; do tính tập thói xấu và dục vọng không thoát khỏi luân hồi. Muốn thoát khổ phải tu tập, từ bỏ dục vọng, phải từ bi hỷ xả, nhẫn nhịn... Mục đích của tu tập là giải thoát khỏi vòng luân hồi, sinh tử, là tới cõi cực lạc...
Các học thuyết và tôn giáo Trung Hoa truyền bá vào Việt Nam đã tạo nên cơ sở văn hoá, tư tưởng để người Hán đẩy mạnh chính sách chính trị - xã hội.
Do đó xã hội và con người Việt Nam đã có những biến đổi nhất định.
1.5. Hậu quả của Hán hoá
Có thể thấy trên nhiều lĩnh vực từ công cụ, cách thức sản xuất (từ giã gạo bằng chày tay sang giã gạo bằng cối máy từ đời Hán) đến cơ cấu xã hội (sĩ, nông, công, thương), thể chế chính tr ị với chế độ Châu, Quận lệ thuộc hình thành; bên cạnh tập tục cũ đã có tập tục mới của người Hán (ở nhà sàn chuyển sang ở nhà đất...). Trong khi tiếp xúc với ngôn ngữ Hán, ngôn ngữ Việt cũng dần dần tiếp thu nhiều yếu tố của ngôn ngữ Hán, nhưng phát triển ngày càng xa với trạng thái ban đầu; bên cạnh nghệ thuật truyền thống là nghệ thuật mang sắc thái Hán... Song với mục đích đồng hoá thì Hán hoá không thành công. Thực thể Việt vẫn khác thực thể Hán, như về phong tục người Việt vẫn dùng trống đồng, tục búi tóc, nhuộm răng, ăn trầu, xăm mình được duy trì cho đến thời kỳ độc lập... Có tình hình đó không phải người Hán không đủ quyết tâm và biện pháp, mà chính là chiều hướng chống Hán hoá đã hạn chế, làm biến chất cái áp đặt từ bên ngoài.
2. Chiều hướ ng chống Hán hoá
Trong thờ i kỳ Bắc thuộc, chiều hướng chống Hán hoá được hình thành là do ý chí và hành động của cộng đồng người Việt Nam yêu nước, đã kiên trì chống lại bọn xâm lược trên mọi phương diện. Sự tồn tại và phát triển của chiều hướng chống Hán hoá là do các nguyên nhân sau:
Thứ nhất, trước khi bị đô hộ, cộng đồng người Việt đã hình thành, có lãnh thổ, có sắc thái văn hoá riêng, có truyền thống năng động, biết thích nghi
và tìm được biện pháp thích hợp để khắc phục khó khăn, để tồn tại và phát triển. Đó là cơ sở để chống lại có hiệu quả thế lực bạo tàn.
Thứ hai, những người yêu nước biết gắn bó với cộng đồng, phát huy được sức mạnh của cộng đồng, đã khẳng định được chủ trương độc lập và ngang hàng với phương bắc, lấn át chủ trương tự trị và lệ thuộc. Biểu hiện cụ thể là các cuộc khởi nghĩa của nhân dân liên tiếp nổ ra suốt thời kỳ bắc thuộc.
- Triệu Đà không chỉ tiến hành xâm lược một lần là có thể chiếm được Âu Lạc. trong thời gian đầu nhờ ưu thế kỹ thuật quân sự - kỹ thuật sử dụng tên nỏ - nên Âu Lạc đã kháng chiến thắng lợi. Cho nên ngoài việc dùng các thủ đoạn quân sự, Triệu Đà còn dùng mưu mô lừa phỉnh và dùng cả của cải để đút lót... để xâm chiếm Âu Lạc. Trong những mưu mô của Triệu Đà, có việc sai người sang Âu Lạc tìm cách phá ưu thế kỹ thuật quân sự của Âu Lạc.
- Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trư ng, mở đầ u cho nh ững cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột của nhà Đông Hán. Chính quyền Trưng vương là mầm mống đầu tiên của một chính quyền độc lập, được dựng lên trong quá trình đấu tranh chống ách thống trị của phong kiến Trung Hoa, trên cơ sở thắng lợi của cuộc khởi nghĩa nhân dân. Cuộc khởi nghĩa đã biểu hiện tinh thần đấu tranh bất khuất của nhân dân ta, góp phần xây dựng truyền thống đấu tranh anh dũng giành độc lập tự do của dân tộc ta.
- Cuộc khở i nghĩa của Lý Bí (542 - 543) đ ã liên kế t vớ i các hào ki ệt các châu khác trên miền đất của người Việt, nên đã thắng lợi nhanh chóng, lập ra nhà nước Vạn Xuân (543 - 548) - ý mong xã tắc được lâu bền muôn đời - và Lý Nam Đế đã cố gắng xây dựng một nhà nước độc lập, tự chủ, bao gồm toàn bộ lãnh thổ của người Việt từ Bắc bộ đến Hà Tĩnh.
- Từ thế kỷ VII, nhất là thế kỷ VIII trở đi, phong trào nhân dân chố ng ách xâm lược phát triển cao và lên tục. Nhu cầu tự vệ chống ách xâm lược đã đoàn kết cộng đồng cư dân người Việt thành một khối vững mạnh. Mục tiêu giải phóng dân tộc, thành lập quốc gia độc lập thể hiện khá rõ ràng. Mai Thúc Loan khởi nghĩa, xưng làm Hoàng đế. Phùng Hưng khởi nghĩa, có ý định thành lập một nước tự chủ... Lực lượng lãnh đạo phong trào đấu tranh giải phóng đất nước và thiết lập một quốc gia độc lập chính là giai cấp phong kiến Việt Nam...
Thứ ba, sự nghiệp của những người yêu nước là sự nghiệp chính nghĩa, lại được nhân dân ủng hộ, còn kẻ thống trị thì phi nghĩa, lại có những mâu thuẫn bên trong không thể khắc phục được, làm cho nó ngày càng suy yếu.
Sự suy yếu của chính quyền đô hộ nhà Đường ở Việt Nam, phản ánh sự suy yếu của chính quyền trung ương nhà Đường và hậu quả của nó là tình trạng phân liệt cát cứ thành cục diện ngũ đại thập quốc (907 - 960). Sự trưởng thành của giai cấp phong kiến Việt Nam và những cuộc khởi nghĩa mạnh mẽ của nhân dân... tất cả những nhân tố trên đã quy định bước chuyển có tính chất quyết định, trong cuộc đấu tranh trường kỳ của nhân dân Việt Nam, chống ách thống trị của phong kiến Trung Hoa vào đầu thế kỷ X.
Thứ tư, quốc gia Việt Nam là sự liên minh của những làng xã. Đặc trưng của văn minh Việt Nam là làng - nước. Trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, làng Việt Nam có vị trí như một pháo đài. Văn minh làng xã xưa là phép vua thua lệ làng, nhập gia tuỳ tục, sống vì lệ hơn vì luật. Làng được tổ chức theo chế độ tự trị - làng xã làm nông nghiệp, cũng làm cả công nghiệp và thương nghiệp. Trong làng không chỉ có nông mà cả công, thương, sĩ. Làng xã Việt Nam là cơ sở vững bền, bảo lưu được văn hoá, truyền thống dân tộc qua những cuộc biến thiên của lịch sử.
* Kết quả của khuynh hướng chống Hán hoá
Trước hết người Việt đã biết tiếp thu các giá trị văn hoá tốt đẹp của Trung Hoa để tự vệ trước cái Trung Hoa thấp hèn và tham lam. Người Việt đã học tập, nghiền ngẫm, vận dụng những thành tựu của hệ thống tư duy đồ sộ của người Hán, để hiểu thấu những vẫn đề của đất nước mình. Mặc dù vay mượn, tiếp thu yếu tố nước ngoài, nhưng người Việt vẫn giữ được cốt cách. Sự kiên trì đấu tranh đã có kết quả: phát triển được sản xuất, giữ gìn và phát triển được văn hoá dân tộc và dân tộc hoá được những yếu tố vay mượn.
Thứ hai, giai cấp phong kiến Việt Nam đã trưởng thành đến độ chín muồi, đã có ý thức về vai trò chủ nhân của mình, thấy cần phải thiết lập một chính quyền của mình... ý thức ấy được phát triển trong quá trình đấu tranh bất khuất của nhân dân Việt Nam. Khát vọng và yêu cầu độc lập của giai cấp phong kiến, phù hợp với khát vọng và yêu cầu của nhân dân là lật đổ ách đô hộ của phong kiến Trung Hoa, mong muốn hoà bình, yên ổn để làm ăn. Do đó mục tiêu của những người yêu nước là dựng cờ mở nước, dựng nước xưng vương ở thời kỳ đầu và tư tưởng khôi phục độc lập và xây dựng đất nước ở thời kỳ sau. Tư tưởng độc lập và ngang hàng với phương Bắc trở thành cơ sở cho đường lối đối nội và đối ngoại của các triều đại phong kiến Việt Nam sau này.
Thứ ba, khuynh hướng chống Hán hoá chẳng những phải tự điều chỉnh để thích nghi, để vượt lên mà còn xâm nhập và làm chuyển hoá cả khuynh hướng Hán hoá, để cuối cùng đất nước, xã hội, con người Việt Nam dưới thời bắc thuộc diễn ra theo chiều hướng hợp lực của hai lực Hán hoá và chống Hán hoá.
Yếu tố Hán và yếu tố Việt đã xâm nhập vào nhau thành một thể mới khác với gốc của mỗi yếu tố.
Thứ tư, ý thức đạo đức và quan niệm nhân sinh của người Việt từ thời kỳ này là một nhân sinh quan tổng hợp, gồm nhiều bộ phận hợp thành trong đó có tư tưởng truyền thống, yêu nước độc lập tự chủ; có Nho giáo, Phật giáo (cả
thiền tông, tịnh độ tông và mật tông) và cả Lão giáo. Các bộ phận này vừa phát triển song song vừa xâm nhập vào nhau tạo thành một quan niệm nhân sinh, một ý thức đạo đức mới được mọi người chấp nhận và ngày càng được bổ xung phát triển.
III. Nhận xét chung
Thứ nhất: Âm mưu của Triệu Đà trong quá trình xâm lược Âu Lạc, cho ta một bài học về ý thức cảnh giác trước kẻ thù xâm lược.
Thứ hai: Trong khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Trưng Trắc là linh hồn, là lãnh tụ của phong trào khởi nghĩa của nhân dân. Cuộc khởi nghĩa đã tập hợp được toàn thể lạc tướng ở các nơi khởi binh và hơn 60 huyện thành nổi dạy hưởng ứng. Có thực tế đó bởi Trưng Trắc đại diện cho quyền lợi của quý tộc Lạc Việt và nhân dân chống lại ách thống trị của phong kiến Hán; mặt khác trong xã hội Việt Nam bấy giờ địa vị và vai trò của phụ nữ trong xã hội còn quan trọng, chưa bị tư tưởng trọng nam khinh nữ lấn át.
Thứ ba: Cuộc nổi dậy của Lý Bí đã đánh dấu một bước quan trọng quá trình trưởng thành của ý thức quốc gia của người Việt. Việc Lý Bí xưng Hoàng Đế, lập ra nhà nước Vạn Xuân (543), chứng tỏ giai cấp phong kiến Việt Nam đã trưởng thành và đã bước lên vũ đài chính trị phản ánh ý thức tự cường, tinh thần độc lập của nhân dân và giai cấp phong kiến Việt Nam. Chính ý chí tự cường, tinh thần độc lập dân tộc đó đã làm thất bại âm mưu đồng hoá của phong kiến Trung Hoa.
Thứ tư: Vào giai đoạn bắc thuộc lần thứ ba (543 - 938) những điều kiện tiền đề cho việc thành lập một nhà nước phong kiến độc lập đã được hình thành. Giai cấp phong kiến Việt Nam ngày càng trưởng thành, thế lực kinh tế của nó đã phát triển to lớn, quyền lợi ngày càng xung đột với chính quyền thống trị thực
dân; Việc truyền bá Nho, Phật, Lão giáo đã làm xuất hiện trong tầng lớp cao tăng người Việt và tầng lớp sĩ phu đỗ đạt cao, giữ một số chức vụ quan trọng trong chính quyền thống trị. Nhân tài là nguyên khí quốc gia đã từng bước được khẳng định; Việc khai thác kinh tế Việt Nam của bọn phong kiến Trung Quốc mạnh mẽ hơn trước, tình trạng áp bức bóc lột được tăng cường, đã làm cho các phong trào khởi nghĩa ngày càng lan rộng. Cuộc đấu tranh của nhân dân ta cuối cùng đã giải phóng được đất nước, với chiếnthắng Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938.
Chiến thắng Bạch Đằng vĩ đại là một trong những sự kiện lớn lao nhất của lịch sử nước ta. Chiến thắng đó đã chấm dứt hơn một nghìn năm thống trị của phong kiến Trung Hoa, mở đầu thời kỳ phát triển độc lập của xã hội phong kiến và lịch sử tư tưởng Việt Nam.
CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN
1. Tóm lược hoàn cảnh lịch sử xã hội Việt nam thời kỳ Bắc thuộc.
2. Phân tích quá trình Hán hoá - Chống Hán hoá trên bình diện hình thành, củng cố tư tưởng dân tộc Việt Nam.
3. Ý nghĩa của nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam thời kỳ Bắc thuộc đối với quá trình hội nhập quốc tế, toàn cầu hoá hiện nay.