Những nhà tư tưởng tiêu biểu của thế kỷ XVIII

Một phần của tài liệu Lịch sử tư tưởng việt nam (Trang 91 - 102)

Chương 1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨUĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

II. Những nhà tư tưởng tiêu biểu của thế kỷ XVIII

1. Tư tưởng Lê Quý Đôn và khuynh hướng tư tưởng của thời đại ông

1.1. Vài nét về tiểu sử

Lê Quý Đôn (1726 - 1784) ngườ i Duyên Hà, t ỉnh Thái Bình, xuất thân trong một gia đình khoa bảng nhiều đời. Thủa nhỏ nổi tiếng thông minh “thần đồng”. Kiến thức uyên bác. Từ thi Hương đến thi Hội đều đậu thủ khoa. Ông là người am hiểu tri thức nhiều ngành khoa học: triết học, sử học, văn học, luật, nông nghiệp và các ngành nghề khác. Về triết học ở ông có yếu tố duy vật, về chính trị luôn tự chủ và tin tưởng vào khả năng cải tạo xã hội và thiên nhiên của con người. Để cải tạo thiên nhiên ông chủ trương biết nhiều, nghe rộng mới làm nên sự nghiệp.

Ông đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị như: Vân đài loại ngữ, Phủ biên tập lục, Kiến văn tiểu lục... Đó là những di sản văn hoá có giá trị trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là đóng góp về mặt tư tưởng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.

1.2. Nội dung tư tưởng của Lê Quý Đôn

Những cống hiến của Lê Quý Đôn trong lĩnh vực tư tưởng chính tr ị xã hội thể hiện ý chí xây dựng một nền văn hoá tư tưởng phát triển và mang bản sắc dân tộc.

Cho đến thời Lê Quý Đôn, cộng đồng người Việt Nam đã trở thành một quốc gia dân tộc vững vàng, với nền văn hoá phong phú, đậm sắc thái phương Nam về lối sống, phong tục tập quán, văn h ọc nghệ thuật. Nh ưng nền vă n hoá đó chưa phản ánh hết nhu cầu phát triển của đất nước, của dân tộc mà còn biể u hiện non kém trên các mặt: Văn bản c ủa quá khứ chưa được chỉnh lý và hệ thống hoá, tâm lý, ý thức dân tộc chưa được phát triển đúng hướng. Sự hạn chế đó gây tâm lý tự ti, thiếu tinh thần sán g tạo, sao chép khuôn mẫ u phong kiế n phương B ắc..., điề u đó gây nên s ự tách biệt giữa lý thuyết và thực hành, giữa học tập và hành động, giữa hiểu biết và việc làm, làm cho ngườ i ta không hiểu đúng đắn thành tự u văn hoá quá khứ, ảnh hưởng xấu đến s ự phát triể n xã hộ i. Lê Quý Đôn đã làm tất cả nhằm khắc phục những hạn chế, nhược điểm đó của văn hoá Việt Nam. Ông được coi là người khở i xướng các tư tưởng đổi mới, cách tân văn hoá để làm phong phú thêm bản sắc văn hoá c ủa c ộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Thứ nhấ t: Ý th ứ c dân tộc luôn luôn thôi thúc Lê Quý Đôn suy nghĩ và hành động vì lợi ích đất nước. Ông đã chỉnh lý nhiều bài thơ, nhiều sự kiện và nhận định đúng với sự thực lịch sử, đã sưu tập, hệ thống hoá toàn bộ tác phẩm văn thơ thời Lý đến thời Lê Trung Hưng. Ông đã điều tra, ghi chép, phân loại, đánh giá nhằm mục đích giới thiệu sinh hoạt vật chất và tinh thần dân tộc với một khối lượng kiến thức lớn. Việc làm đó đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng nền văn hoá, tư tưởng mang bản sắc dân tộc.

Thứ hai: Lê Quý Đôn đã biên soạn lại lịch sử dân tộc để đánh giá đúng với sự thực lịch sử, phê phán phong kiến Trung Quốc lấn chiếm, xâm lược nước ta. Tuyên dương nhân tài đất nước, đánh giá cao tài nguyên thiên nhiên, sản vật của đất nước..., mà phương Bắc phải học hỏi, hâm mộ. Bằng những việc đó ông đã xây dựng được lòng tự hào dân tộc, tăng thêm lòng yêu

nước của con người Việt Nam. Sự thông minh, ham hiểu biết thôi thúc Lê Quý Đôn ra sức tìm tòi nghiên cứu những điều mới lạ để tìm ra hệ thống, tổng kết. Vì thế, kiến thức của ông ngày một vững vàng, sâu sắc và đặt những cơ sở vững chắc cho những cống hiến của ông. Lê Quý Đôn là người có khuynh hướng phủ nhận vai trò độc tôn của Nho giáo trong đời sống xã hội. Từ khi Nho giáo trở thành học thuyết thống tr ị của giai cấp phong kiến Việt Nam, cho đến thời Lê Quý Đôn, chưa ai phủ nhận vai trò của nó. Là một Nho sĩ, thế giới quan của Lê Quý Đôn vẫn là thế giới quan của Nho giáo.

Nhưng trên phương diện khác, do nhận thức được yêu cầu của lịch sử và thấy được phần nào sự hạn chế của Nho giáo nên ông có chiều hướng phủ nhận sự độc tôn của Nho giáo.

Thứ ba: Trên con đường phát triển của dân tộc ta, luôn song hành hai hướng của sự phát triển văn hoá tư tưởng; Một là phát huy thành tựu văn hoá dân tộc; Hai là tiếp thu thành tựu văn minh nước khác để làm phong phú cho mình. Người đầu tiên trong lịch sử nước ta có ý thức tiếp thu kiến thức nhân loại với nội dung mới là Lê Quý Đôn. Văn minh phương Tây thế kỷ XVIII ở Châu Âu thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, với khối lượng kiến thức về tự nhiên, xã hội, vô cùng phong phú và đồ sộ qua sự truyền giáo của Châu Âu sang Phương Đông và vào Việt Nam với nhiều kiến thức trên nhiều lĩnh vực: thiên văn, Địa lý, Khoa học... được dịch sang tiếng Hán và giới thiệu ở nước ta. Nhờ đó, ông biết được thế giới xung quanh con người, biết được vị trí các vì sao, kinh truyến, vĩ tuyến, các đại lục, đồng hồ chạy bằng bánh xe,... Từ đó ông thấy được sự hạn chế của Nho học.

Thứ tư: Về quan điểm chính trị - đạo đức, Lê Quý Đôn có chủ trương khác với Nho giáo chính thống. Nếu Nho giáo chính thống cho rằng sự nghiệp của vua chúa là vương đạo theo đường lối Nho gia, xử lý công việc phải mềm

mỏng, nhân nghĩa. Nho giáo là độc tôn, văn minh Trung Quốc là duy nhất và chỉ có Khổng Tử là thánh, đọc sách thánh hiền để trở thành người quân tử.

Lê Quý Đôn thì cho rằng, sự nghiệp của vua chúa là vương đạo, kết hợp với bá đạo, xử lý công việc nhân nghĩa phải kết hợp với pháp thuật - thế, đánh giá con người phải dựa vào cả đức và tài, thế giới có nhiều học thuyết, nhiều nền văn minh, nên không chỉ có: Nho - Phật - Lão mà còn có Hồi giáo, Thiên chúa giáo... ngoài Khổng Tử còn có Jêsu, Môhamét...

Kiến thức của ông có được là do ông đọc được các sách của người phương Tây lưu truyền ở nước ta. Chúng đem lại cho ông nhiều kiến thức mới mẻ, mở rộng tầm nhìn, đưa đến sự chuyển biến trong tư tưởng của ông.

Thứ năm: Ông là người Việt Nam đầu tiên đưa ra và thực hiện có hiệu quả các phương pháp quan sát trực tiếp, thu thập tư liệu quá khứ và tư liệu sống để xử lý phân tích và nghiên cứu nhằm nhận thức thế giới xung quanh. Sự ham hiểu biết, luôn mở rộng tầm kiến thức trong lý thuyết sách vở kết hợp với thực tiễn điều tra, quan sát khiến Lê Quý Đôn hướng nhận thức của mình đi vào những vấn đề cơ bản của thế giới quan, những vấn đề có ý nghĩa triết học như: quan niệm về nguồn gốc và bản chất của vạn vật, về phương pháp nhận thức sự vật, về phương pháp nhận xét, đánh giá và sử dụng con người.

Thứ sáu: Về nguồn gốc và bản chất của sự vật, Lê Quý Đôn cũng sử dụng khái niệm “lý” và “khí” là hai khái niệm của Tống Nho nhưng được bổ xung bằng kiến thức khoa học Phương Tây mà ông có thể diễn đạt. Phạm trù

“Khí” để giải thích các hiện tượng vật chất thế giới. “Khí” sinh mặt trời, mặt trăng, các vì sao, khoảng không vũ trụ, sấm, mưa, bão, muôn loài,... “Lý” là phạm trù để nhận thức sự vật (ý thức, tinh thần). Lý ở trong “Khí” là thuộc tính của “Khí”. Mỗi vật đều có một lý, như một quy tắc vận hành của “Khí”. Vì thế phải suy lý đến tận cùng để biết sự vật (bản chất của vật). Nêu lên tư tưởng đó,

Lê Quý Đôn đã đặt ra một vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong nhận thức luận, nhận thức sự vật phải nhận thức lý và quy tắc của nó - tức là nhận thức quy luật phát triển của sự vật. Đó là cách đặt vấn đề có ý nghĩa sâu sắc về phương pháp nhận thức và mục đích của nhận thức.

Thứ bảy: Về phương pháp đánh giá, nhận xét và sử dụng con người, ông cho rằng, xem xét con người gồm cả hai mặt: tài và đức, trong đó mỗi mặt đều có ý nghĩa của nó. Xét người thì căn cứ vào nết nhỏ, dùng người thì căn cứ vào nết lớn, và tài năng. Vì “có tài năng khác thường thì mới có thể lập công, lập nghiệp khác thường”. Quan niệm của ông có sự hợp lý và có tính tích cực nhất định, ông đặt ra được những vấn đề mới mẻ và có sự lý giải sâu sắc.

2. Ngô Thì Nhậm - Nhà tư tưởng lỗi lạc thời kỳ biến loạn xã hội

2.1. Vài nét về tiểu sử

Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803) sinh ra trong một gia đình dòng dõi bốn đời khoa bảng ở làng Tả, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà tây. Vớ i tư chất thông minh, học giỏi, đỗ đạt cao và thăng chức nhanh, nên ông bị nhiều sĩ phu ghen ghét.

Ông sống trong thời kỳ loạn lạc, chiến tranh liên miên, hết Đàng Trong lại Đàng Ngoài, khởi nghĩa của nông dân, tranh giành quyền lực của các chúa và cả sự xâm lược của nhà Mãn Thanh đến triều Tây Sơn, và cuối cùng Nguyễn Ánh diệt nhà Tây Sơn. Phần đầu sự kiện thì cha ông là Ngô Thì Sĩ và nhà bác học Lê Quý Đôn đã trải qua, nhưng khi Tây Sơn kéo ra Thăng Long thì họ đã qua đời.

Bước ngoặt trong cuộc đời ông là theo Tây Sơn và được phục vụ bằng tài năng và tâm huyết của mình, nhờ đó mà ông cống hiến thực sự lớn lao cho đất nước thời đại đã được ông phản ánh trong tư tưởng, suy nghĩ và hành động. Tác phẩm của Ngô Thì Nhậm có: Nhị thập nhất sử toát yếu, Bút hải tùng đàm, Hoàng hoa đồ phả, Kim mã hành dư, Xuân thu quản kiến, Trúc lâm tông chỉ nguyên thanh,...

2.2. Nội dung tư tưởng của Ngô Thì Nhậm Thứ nhất: Tư tưởng triết học của Ngô Thì Nhậm

Ngô Thì Nhậm là một trong những người đương thời có ý thức xây dựng cho mình một nhận thức luận phù hợp với thực tế lịch sử. Ông cho rằng, người đời thường dừng lại ở hiện tượng sự vật. “Người đời thường chỉ căn cứ vào núi để xem núi mà không với được, mà không biết trở ra tìm cái cớ sở dĩ núi làm sao mà cao. Người đời thường chỉ căn cứ vào nước mà xem nước thì chỉ biết được sâu không thể nào lường được, mà không biết trở lại tìm cái cơ sở dĩ nước làm sao mà sâu”.

Trước tiên, Ngô Thì Nhậm nhận thấy thế giới bên ngoài gồm các môi trường là trời, đất, người... Chúng vừa có tính thống nhất vừa có tính đa dạng.

Ngô Thì Nhậm thừa kế tư tưởng cổ đại Trung Quốc, nhưng không bàn nhiều về lý thuyết mà quán triệt vào trong nhận thức và hành động. Vì vậy, tư tưởng của ông có yếu tố duy vật và yếu tố biện chứng. Chính vì lẽ đó, ông không bỏ ngỏ các sự kiện cũng như cứng nhắc trong xử thế.

Điều có nghĩa hơn là ông kế thừa, phát triển một số phạm trù như Thời - Thế, Mệnh trời - Lòng người. Thời là khái niệm xuất hiện từ lâu trong lịch sử Phương Đông và có nhiều nghĩa. Lúc đầu theo tự nhiên, yếu tố thời gian, sau chuyển sang xã hội và triết học để gắn với thế, trời và người. Theo nghĩa chung nhất là thời vận như nghĩa của đạo trời. Theo Ngô Thì Nhậm, thời ở dòng biến chuyển liên tục, nên phải theo thời, đạo cũng phải thay đổi cho phù hợp. Nắm được thời và hoạt động theo thời thì thắng lợi, nếu bỏ thời mà hành động thì thất bại. Vì vậy luôn tỉnh táo, nắm bắt, luôn thay đổi hoạt động để phù hợp với thời - Hoạt động đó gọi là thế. Thời được quan niệm như sự vận động khách quan, còn Thế là hoạt động chủ quan của con người.

Phạm trù “Mệnh trời” (thiên mệnh, có khi gọi là mệnh, vận mệnh). Ngô Thì Nhậm thừa nhận “mệnh trời” là một lực lượng bên ngoài con người nhưng lại chi phối con người, mà con người không thể cưỡng lại được, như một tất yếu khách quan không tách mệnh trời ra khỏi lòng người. Ý chí của đa số quyết định.

Đạt được những nhận thức trên là do Ngô Thì Nhậm là nhà tư tưởng năng động, biết vận dụng lý thuyết vào hoạt động thực tiễn một cách sáng tạo, biết lấy thực tế lịch sử để kiểm tra, bổ xung lý thuyết và có tinh thần dũng cảm khác người. Vì thế, tư tưởng của ông mang nhiều tính chất bền vững và duy lý - có một tiếng nói riêng. Tuy nhiên, tư tưởng của ông còn có những hạn chế nhất định như quan điểm địa lý, quyết định luận, quan điểm phong thuỷ...

Thứ hai: Tư tưởng chính trị - xã hội của Ngô Thì Nhậm

Trước hết, theo Ngô Thì Nhậm là do con người gây ra. Con người đó là vua và các quan ch ức triều đình. Hậu quả đó không phải là sự kiện nhất thời trước mắt mà là kết quả của hàng loạt sự kiện trước đó gây ra lâu dài chưa được giải quyết giữa các xu hướng các lực lượng. Muốn giải quyết được phải thay đổi chính sách cai trị, tạo ra s ự cân bằng âm dương, các xu hướng lực lượng trở lại trạng thái thanh bình trong sự cân bằng đó.

Muốn giải quyết được vấn đề xã hội thì vua là trung tâm, tiêu biểu, sao cho có vua thánh, còn lực lượng thì hướng tới dân. Người dân áo vải bình thường làm mọi việc, nuôi sống cả xã hội và triều đình. Thái độ và xu hướng của họ có ảnh hưởng trực tiếp tới vận mệnh của triều đình. Ông coi dân là trung tâm của vũ trụ, của quan hệ giữa trời và người, “trời trông, trời nghe do ở dân, lòng dân yên định thì ý trời cũng xoay chuyển”, “Trong nước yên là nhờ ở được lòng người”. Muốn được lòng dân thì phải giảm sự đóng góp, giảm thuế.

Đối với quan lại phải giáo dục lại, đào tạo tuyển chọn sao cho vừa có văn, vừa

có hạnh, thức thời, dũng cảm, sáng suốt. Tư tưởng muốn xây dựng mẫu người để cải tạo xã hội.

Không ngừng lại ở nguyên nhân xã hội, con người, Ngô Thì Nhậm tìm ra nguyên nhân từ trong kinh tế, nét khác biệt của ông với các nhà tư tưởng Phương Đông. Ông cho rằng: Thiếu thốn là nguồn gốc của sự rệu rã xã hội, mất an ninh xã hội, dân phiêu bạt đi các nơi, không tuân lệnh triều đình, nổi lên làm loạn, còn quan chức triều đình thì không làm tròn chức phận,...

Thứ ba: Về đạo làm người

Một trong nh ững điều trăn trở của Ngô Thì Nhậ m là đạo làm người, một xã hội chiến tranh loạn lạc, chia cắt non sông, đảo lộn cuộc sống thường xuyên thì đạo đức xã hội cũng sa sút - Nó là sản phẩm của xã hội đó. Muốn xây dựng lại xã hội thái bình, thịnh trị thì cũng phải xây dựng đạo làm người sao cho hoà nhã từ trong nhà ra ngoài xã hội, sao cho quan hệ con người có trật tự, kỷ cương, trên các lĩnh vực cuộc sống con người. Đạo làm người được Ngô Thì Nhậm truyền bá là đạo Nho, và ông đề cập đến trung hiếu, nhân nghĩa, đức hạnh.

Trung - Hiếu không dừng lại ở quan niệm Nho giáo, mà theo ông, cần phải thực hiện trong hành động, không thể nói suông, phải có lòng dũng cảm kiên cường, giữ vững khí tiết, thực hiện nghĩa vụ và bổn phận.

Với Nhân - Nghĩa, đạo đức, ông hướng tới triều đình, người nhân nghĩa ở ngôi trị nước phải biến tư tưởng nhân nghĩa thành chính sách kinh tế - xã hội, đưa lại ruộng đất cho người dân, quyền sống cho con người, sự yên ổn cho xóm làng và an ninh cho đất nước.

Mấy năm cuối đời, ông cùng một số bạn bè lập thiền viện, nghiên cứu đạo Phật, một hiện tượng cửa Khổng - Sân Trình đi ngang qua cửa Thiền. Ông dùng khái niệm của Nho giáo để giải thích quan niệm của nhà Phật và vì thế, mặc dù thông minh và học rộng tài cao nhưng không được tôn là bậc thầy,

Một phần của tài liệu Lịch sử tư tưởng việt nam (Trang 91 - 102)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(140 trang)