Nội dung cơ bản của tư tưởng Việt Nam thế kỷ XIX

Một phần của tài liệu Lịch sử tư tưởng việt nam (Trang 106 - 117)

Chương 1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨUĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

II. Nội dung cơ bản của tư tưởng Việt Nam thế kỷ XIX

Ở nước ta từ thế kỷ XV tới thế kỷ XIX, Nho giáo là quốc giáo. Cho nên ý thức hệ phong kiến thế kỷ XIX chủ yếu cũng là Nho giáo. Lúc này xem xét Nho giáo là xem xét bốn vấn đề cơ bản: Thiên đạo quan, lịch sử quan, vấn đề đạo đức và trị đạo.

1. Thiên đạo quan

Đạo với nghĩa là quan niệm, thiên đạo quan là quan niệm về thế giới. Đạo trời là âm - dương, đạo đất là cương - nhu, đạo người là thiện ác. Thiên đạo là gốc của nhân đạo, thiên tính là gốc của nhân tính (đạo đức và trị đạo).

Nhà Nho thế kỷ XIX ít bàn về trời, đạo trời. Nhưng tin tưởng vào mệnh, thiên mệnh thì phổ biến và sau sắc. Chữ mệnh nổi tiếng nhất được nói đến trong đoạn kết truyện Kiều của Nguyễn Du:

Ngẫm hay muôn sự tại trời

Trời kia đã bắt làm người có thân Bắt phong trần phải phong trần

Cho thanh cao mới được phần thanh cao

Tư tưởng mệnh trời vừa là vũ khí chính trị sắc bén của giai cấp phong kiến, lại là cơ sở cho những kẻ âm mưu chống lại triều đình, vừa như một thái độ sống, một phương châm ở đời.

Tư tưởng thiên nhân t ương cảm phổ biến và ngự tr ị ở triều đình, quan lại, trong thơ văn và đi liền với vận số, mệnh trời. Trong quần chúng thì c ầu đạo, vái tr ời, cúng sao v.v... rất phổ biến. Bói toán r ất thịnh hành từ triều đình xuống dân gian để xem từ việc bần - phú, thọ - yểu, may - rủi... cho đến thắng bạ i của t ướng cầm quân ra trận. Ra quân cũng bói, nghị hoà cũng bói.

Những tư tưởng này có tác hại rất lớn, rất rộng trong các tầng lớp xã hội qua các Nho sĩ, từ sách vở đến đời sống. Nó chống lại tư tưởng khoa học kỹ thuật, cản trở hoạt động sáng tạo của con người và công cuộc chiến đấu chống xâm lược. Vào giữa thế kỷ XIX khi đụng chạm đến văn minh và vũ lực phương Tây, vua quan ta không chịu tin vào tính chất chính xác của khoa học kỹ thuật, mà cứ cho rằng hễ không có âm dương, ngũ hành tương sinh tương khắc và không hợp với cổ nhân thì là hoang đường, là mánh khoé phiên quỷ, kỳ phương dị thuật, không thể suy tôn. Đó là tư tưởng thủ cựu, phục cổ rất tai hại của Nho giáo.

Theo quan niệm của vua tôi nhà Nguyễn, bên cạnh thế giới con người, còn có thế giới linh hồn. Thế giới linh hồn vừa đáng thương (vì gốc người) mà vừa đáng sợ (vì quấy phá). Do đó mới có chuyện cúng tế cô hồn, ma quỷ...

Tóm lại thiên đạo quan của Nho giáo Việt Nam thế kỷ XIX là lạc hậu, phức tạp và xa lạ với khoa học của thế giới. Con người phụ thuộc vào trời, thần, vào cổ xưa, nên không thể đáp ứng đương yêu cầu của lịch sử.

2. Quan niệm về lịch sử

Trước đây đi học được xem là: “Sôi kinh nấu sử”, không thuộc kinh sử sao gọi là nhà Nho. Đạo người thì chính trị là lớn, mà Nho giáo và nhà Nho lại nhằm vào chính trị, vào trị quốc, bình thiên hạ, nên càng chú ý đặc biệt đến lịch sử. Lịch sử được nhà Nho đánh giá là kho kinh nghiệm chính trị, là nguồn điển tích làm cơ sở cho thơ, viết tấu, sớ, điều trần... Kinh xuân thu của Khổng Tử là một bộ sử nổi tiếng.

Ở n ước ta, thờ i Nguyễn đã có nhiều công trình lịch sử nh ư: “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, “Đại nam thực lục tiền biên” v.v... Một số còn do tư nhân viết như “Hoàng Lê nhất thống chí” của Ngô Thì Nhậm, “Lịch triều hiến chương loạn chí” của Phan Huy Chú...

Những nét chính trong quan niệm về lịch sử của Nho giáo Việt Nam thế kỷ XIX.

Trước hết là quan niệm về vận khí, vận hội. Lịch sử dân tộc nào cũng trải qua sự hưng - phế, trị - loạn của các triều đại. Hưng rồi phế, phế rồi hưng cho đến khi sụp đổ và triều đại mới thay thế... Hiện tượng biến chuyển đó người xưa gọi là “khí vận”, “vận hội”, “tuần hoàn”. Một sự chuyển vận đương nhiên mà sức người không thể nào cưỡng nổi. Vận khí, vận hội là một mặt thiết yếu của âm dương ngũ hành.

Các nhà làm sử triều Nguyễn phần đông bị sa lầy trong học thuyết thần bí này. Vận cũng là trời, là mệnh trời. Vận khí, vận hội là lẽ tuần hoàn tất yếu của trời đất, nên thịnh suy, trị loạn nối nhau đều tuỳ trời...

Như vậy theo Nho giáo, vận khí, vận hội trong lịch sử quan chỉ là ý thức về sự tuần hoàn, mà chưa có ý thức về sự phát triển.

Hai là tư tưởng trước hơn sau. Tiêu chuẩn để đánh giá là đạo lý, phong tục, chưa biết cơ sở kinh tế, giai cấp và đấu tranh giai cấp v.v... Cho nên các nhà Nho cho rằng đời xưa phong tục, tính tình thuần hậu hơn nay; pháp luật xưa khoan hoà hơn nay; nhân tài xưa cao hơn, toàn diện hơn ngày nay... Chỉ có Nguyễn Trường Tộ giữa thế kỷ XIX đã chống lại sự bảo thủ, sự thụt lùi của tư tưởng trước hơn sau. Phải đến đầu thế kỷ XX, tư tưởng lịch sử tiến hoá đi lên mới thành một xu hướng, đi tìm đường mới theo hướng duy tân, theo chủ nghĩa tư bản.

Ba là tư tưởng đạo trời và sự may rủi. Các nhà làm sử triều Nguyễn đã trả lời nguyên nhân của sự hưng - phế, trị - loạn là tại trời, tại may rủi. Hễ thịnh thì bảo trời nuông, hễ suy thì nói trời ghét. Hễ được thì nói gặp may, hễ thua thì nói gặp rủi... và các nhà làm sử triều Nguyễn còn đưa may rủi lên thành một nguyên lý, một quy luật lịch sử.

Bốn là, vai trò quyết định của người tài, độc lập với điều kiện lịch sử.

Quần chúng nhân dân hoàn toàn b ị lãng quên. Các nhà sử học triều Nguyễn cho rằng sự an nguy của một đất nước, được định đoạt bởi nước ấy có hay không có nhân tài. Song khi nhân tài sẵn đó mà sự nghiệp vẫn không thành thì họ quay về với trời, với đạo trời và sự may rủi. Họ cũng không hiểu điều kiện nào cho phép nhân tài xuất hiện, những điều kiện nào để nhân tài phát huy được tài năng của mình. Nhân tài rất quan trọng, nhưng quan trọng hơn hết là quần chúng nhân dân - lực lượng chủ yếu làm ra lịch sử thì bị lãng quên.

Năm là, về tư tưởng chủ đạo của người viết sử. Trước hết lịch s ử được quan niệm là một tấm gương cho vua đến dân soi vào. Người viết s ử là người mài lau gương ấy. Song vấn đề quan trọng là ở chỗ người viết sử phải có lịch sử quan chính xác, một khoa học lịch sử vững chắc, một lập trường yêu nước thương dân... mới có thể ghi chép và giải thích lịch sử một cách đúng đắn, gương lịch sử treo lên mới trong sáng, kinh nghiệm lịch sử rút ra mới bổ ích.

Qua các bộ sử của triều Nguyễn thì tấm gương lịch sử bị méo mó, mờ nhạt, phải gia công, dùi mài mới có thể dùng đươc. Thứ hai, tư tưởng cho rằng điều quan trọng nhất của việc làm sử là phải làm rõ được chính thống. Chính thống theo quốc sử quan triều Nguyễn, thì triều đại phải là người bản quốc, đất nước phải độc lập tự chủ; đất nước phải quy về một mối, không chia rẽ; độc lập phải lâu dài để xây dựng một chính thể tự chủ có quy mô, triều đại thành lập có chính nghĩa.

Trừ nghĩa chính thống là độc lập tự chủ, thống nhất ra, các yếu tố khác chẳng những là sự rập khuôn theo sử học Nho giáo phương Bắc, mà còn đượm tính chất phản động, thuộc bản chất của chế độ nhà Nguyễn. Thứ ba là các nhà sử học theo cương thường Nho giáo để đánh giá, nhận xét sự việc và con người.

Họ ít xem xét về đường lối chính sách lớn, mà đi vào những chuyện lặt vặt...

Tóm lại vẫn là quan niệm Nho giáo về đạo đức và thiên đạo được thể hiện trong việc ghi chép và bình luận chính trị và con người làm chính trị.

3. Nguyên lý về đạo đức

Nho giáo nhìn cái gì cũng theo con mắt đạo đức: trời, người, lịch sử.

Không coi trọng tính khách quan của sự vật, coi đạo đức là phương châm, phương hướng mới của việc trị nước. Trong đạo đức thì cương thường hay luân thường là cái xuyên xuốt. Luân là ngũ luân, tức là năm mối quan hệ: vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em, bạn - bè; rút gọn là tam cương: vua - tôi, cha -

con, chồng - vợ. Rút gọn nữa còn hai là đạo quân - thần, trung, hiếu: vua - tôi, cha - con.

Ngũ luân là quan trọng nhất trong đạo đức Nho giáo và trung, hiếu là quan trọng nhất trong ngũ luân. Thế kỷ XIX chế độ quân chủ tập trung đến cao độ nên quan niệm chữ trung càng khắt khe, hẹp hòi bởi trung là trung với bản thân người làm vua. Vì thế khi vua không trung với nước, số đông bề tôi vẫn

“không nỡ bỏ vua”.

Thường là ngũ thường, năm đức: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Theo Chu Đôn Di, yêu là nhân, phải là nghĩa, hợp lý là lễ, thông đạt là trí, tri thủ là tín. Cả năm đức đều ở trong tính, theo tính là thánh, trở về với tính là hiền.

Nhìn chung, Nho giáo Việt Nam quan niệm về nhân, nghĩa thường rập khuôn theo Khổng - Mạnh. Song cũng có người có cách hiểu hoặc lối giải thích đặc sắc. Nguyễn Đức Đạt xem đức nhân là nhu cầu nội tại của người quân tử, như ngứa thì phải gãi... Tuy vậy phải tu thân mới nuôi lớn được đức nhân. Đạo nhân có mặt ở khắp nơ i làm nền cho các đức khác, thì các đức khác mới thành.

Trí có thể được lòng dân nhưng nếu không có nhân thì không đẹp lòng. Trí dũng lại có nhân thì lợi thiên hạ, trí dũng mà không có nhân thì nhiễu thiên hạ.

Các nhà Nho nói chung, coi đức nhân chỉ hạn chế ở người quân tử. Nhân từ trên tưới xuống, nghĩa từ dưới dâng lên. Chữ nhân của Nho giáo thế kỷ XIX vì thế mà khô héo đến cực độ.

Vào thế kỷ XIX trong sinh hoạt, chính trị đạo đức ở nước ta, chữ nghĩa nổi lên hàng đầu trong thời bình cũng như thời chiến.

Quan niệm về nghĩa rộng và sâu sắc, chẳng những là cái vốn tinh thần quý nhất có thể để lại cho con cháu, cho đời sau. Là thành danh không ngoài làm việc nghĩa mới thực là danh, không phải là hư danh, mà còn là nhiệm vụ không thể từ chối được của con người đối với cái gì đúng, tốt và nên làm,

nhiệm vụ của dân đối với nước, con cháu đối với ông bà cha mẹ, người đời nay đối với các thế hệ mai sau.

Quan niệm về nghĩa thế kỷ XIX của nhà Nho Việt Nam có lẫn vào chữ nhân, dũng lại bó hẹp trong sự cư xử hàng ngày ở gia đình, làng xóm.

Chữ lễ dùng để nói cách thờ cúng thần linh, tổ tiên, sau mở rộng ra thành quy củ, trật tự trong xã hội có trên, có dưới, trước sau, lớn nhỏ, trọng khinh, thân sơ. Có người nói rằng nhân là nội dung của lễ và lễ là hình thức của nhân.

Nhà Nho thế kỷ XIX đã thổi phồng sự quan trọng của lễ, cường điệu tác dụng của nó và cho rằng lễ không phải là thành quách mà chống được giặc...

Cho nên chữ lễ trở thành thuốc lú đối với triều Nguyễn.

Chữ trí được nhà Nho nói nhiều hơn tín, nhưng ít hơn nói về lễ. Chữ dũng thì dần dần được bỏ rơi.

Trí là biết người, biết người là điều rất lớn trong cuộc sống của mỗi người, của đoàn thể, của nhà nước.

Trí là sự phân biệt đúng sai, hay dở, tốt xấu để tìm người mà chơi, mà dùng để hoá người xấu ra người tốt. Trí gắn với đạo đức, phụ thuộc vào phục vụ đạo đức.

Vào thế kỷ XIX do thái độ bảo thủ và bản chất phản động của triều Nguyễn, trí lúc này không phải là trí mà là xảo là ngụy. Bởi triều đình đã thờ ơ, lãnh đạm với những tư tưởng duy tân, đổi mới và để bảo vệ đặc lợi phong kiến, nhà Nguyễn đã dồn mọi lực lượng quân sự trong tay vào việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân. Chính trong quá trình đó mà lực lượng quân sự của triều đình suy yếu dần, đồng thời cũng huỷ hoại mất khả năng kháng chiến to lớn của nhân dân. Và như vậy đã tạo điều kiện cho tư bản Pháp dễ dàng thôn tính nước ta.

Cuối cùng là chữ tín, tín là lời hẹn ước với nhau, là đức lớn trong cuộc sống, để quan hệ giao dịch ở đời giữa các con người, tập đoàn, các nước. Không có tín thì không có bầu bạn, anh em, vợ chồng, vua tôi cho ra thể thống, đời sẽ chỉ là mưu toan lừa đảo lẫn nhau. Chí ít cũng là sự nghi ngờ, lòng người rời rã chẳng việc gì nên.

Nhà Nguyễn, như lẩn tránh không nói mấy đến tín. Bởi chính nhà Nguyễn bắt đầu thất tín với sĩ phu Bắc Hà (hứa khôi phục nhà Lê nhưng lại lập ra nhà Nguyễn), thất tín đối với công thần khai quốc của nó (như giết Nguyễn Văn Thành và nhiều vụ khác). Ngược lại bằng lòng tín vô hạn đối với kẻ xâm lược, tin rằng Pháp sẽ trả lại Nam kỳ, Bắc kỳ... Trí như thế kia mà tín như thế này thì tránh sao khỏi mất nước.

4. Nguyên lý về trị đạo

Trị đạo Nho giáo liên quan rất chặt chẽ với thiên đạo và đạo đức của nó.

Phương châm lớn của trị đạo thời Nguyễn bao gồm: Kính thiên, ái dân; cần chính, thân hiền; pháp tổ, xưa hơn nay.

Các vua lên ngôi đều tuyên bố mình nhận mệnh trời, thay mặt trời mà thi hành đạo lý. Điều này muốn khẳng định nguồn gốc thiêng liêng của quyền vua.

Tính thiêng liêng đó đảm bảo tính lâu dài, bất khả xâm phạm khiến mọi người phải hết sức tôn sùng. Vua nhận mệnh trời tất phải kính trời. Nhà vua kính trời bằng lễ tế hàng năm ở đàn Nam giao, bằng cách hàng ngày chú ý đến điểm trời tốt xấu, xem đó là ý trời nhắc nhở mà sửa đức.

Thực tế kính thiên của nhà Nguyễn chỉ là lời nói che miệng quần thần, che miệng thế gian. Kính trời sợ trời là để giảm sự uất hận của nhân dân đau khổ.

Ái dân là đầu mối của nhiều chính sách trong trị đạo, nhưng thương dân cốt để củng cố quyền vua, an dân cốt để triều đình vĩnh cửu. Dân không phải là

đối tượng để phục vụ mà là đối tượng để bóc lột, để muôn nhà ph ục vụ một người. Cho nên ái dân chỉ là đầu lưỡi.

Cần chính là vua phải chăm lo chính sự, muôn việc tự xét không bỏ bê chính sự. Vua đã cần chính thì quan cũng vậy. Nhưng thói thường trước siêng sau lười, lúc đầu có nhiều người tốt, còn ít ai có lúc cuối tốt. Theo tư tưởng Nho giáo thì sự thịnh suy, trị loạn của một nước là có hay không có nhân tài: “mất kẻ sĩ thì nước mất và mất rất nhanh chóng; được kẻ sĩ thì nước thịnh và thịnh lâu dài”.

Song nhà Nguyễn tỏ ra thất vọng trong việc đào tạo nhân tài. Bởi một chế độ đang suy tàn không thể sinh ra nhân tài xuất chúng, tuy vẫn có những người có khí tiết và nhiệt tình cao. Mặt khác, nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây đã đến gần mà sự đào tạo vẫn theo đường khoa mục Nho giáo của phương Bắc, thì làm sao có thể đương nổi việc nước.

Một phương châm rất lớn của Nho giáo là “pháp tiên vương”. Nhà Nguyễn nói pháp tổ là noi theo tổ tiên cũng là pháp tiên vương, noi theo các vua trước mà thôi. Nhà Nguyễn đề ra Pháp tổ tức là noi theo các vua tổ tiên của mình về chính luận luật pháp, tập quán cai trị của các vua sáng lập nhà Nguyễn.

Nhà Nguyễn không có tiến bộ chút nào với khái niệm pháp tổ mà trái lại còn biểu hiện tinh thần dòng họ hẹp hòi vừa phi dân tộc vừa phi nhân dân. Thực chất của pháp tổ, pháp tiên vương là phục cổ, chống lại mọi sự đổi mới, không phải là bảo vệ truyền thống tốt, kinh nghiệm hay và luôn luôn thể hiện lập trường và lợi ích của giai cấp họ.

Nho giáo rất kiêng kị với cải cách, với đổi mới. Sợ thay đổi thì đảo lộn thói quen, sợ thay đổi một việc thì sẽ dẫn tới sự thay đổi việc khác.

Một phần của tài liệu Lịch sử tư tưởng việt nam (Trang 106 - 117)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(140 trang)