Hoàn cảnh lịch sử xã hội Việt Nam thế kỷ XVI - XVII

Một phần của tài liệu Lịch sử tư tưởng việt nam (Trang 76 - 79)

Chương 1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨUĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

I. Hoàn cảnh lịch sử xã hội Việt Nam thế kỷ XVI - XVII

1.1. Nhà nước phong kiến Lê Sơ bước vào thời kỳ suy vong

Bước sang thế kỷ XVI, nhà nước phong kiến Lê Sơ bước vào thời kỳ suy thoái. Kể từ Lê Uy Mục (1505 - 1509), Lê Tương Dực (1509 - 1516) chính quyền Lê Sơ đã mục nát không thể nào cứu vãn được. Nhà vua thì ăn chơi, ở triều đình thì các phe phái tranh giành địa vị và quyền lợi, hoạn quan, ngoại thích hoành hành. Việc xây dựng cung điện, đền đài và chế độ hành chính quan liêu, đã làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân và triều đình càng thêm sâu sắc.

Phong trào nông dân khởi nghĩa liên tiếp hơn 10 năm (1511 - 1522) đã góp phần làm cho nhà Lê Sơ đi đến tan rã. Trong điều kiện đó Mạc Đăng Dung, từ một võ quan leo lên đến chức tể tướng. Từ 1556 - 1519 Dung dưới danh nghĩa phù Lê Chiêu Tông (1516 - 1522) tiêu diệt các phe phái đối lập (Trịnh Tuy, Nguyễn Hoàng Dụ), đồng thời đưa người của mình vào nắm các cương vị chủ chốt ở triều đình và các địa phương. Vua Chiêu Tông trốn khỏi kinh thành, Dung lập Hoàng Đệ Xuân thay thế, sau đó bắt Chiêu Tông đưa về Hải Dương.

Năm 1526 Dung giết Chiêu tông và năm 1527 bắt Hoàng Đệ Xuân nhường ngôi cho mình. Nhà Lê Sơ tồn tại gần 100 năm thì bị nhà Mạc thay thế.

1.2. Chiến tranh Nam - Bắc triều

Mạc Đăng Dung vừa lên ngôi, thì một tập đoàn phong kiến khác lấy danh nghĩa “phù Lê diệt Mạc”, tập hợp lực lượng nổi dậy ở Thanh Hoá thành lập

triều đình mới gọi là Lê Trung Hưng (1533) chính quyền họ Mạc thống trị ngoài Bắc bộ, ngày nay gọi là Bắc triều; chính quyền họ Trịnh dưới danh nghĩa phù Lê quản lý vùng đất từ Thanh Hoá trở vào gọi là Nam triêù. Trong khoảng gần 50 năm (1546 - 1592) với 38 chiến dịch lớn nhỏ xảy ra giữa Lê - Trịnh và Mạc. Năm 1592 Nam triều thắng Bắc triều, nhà Mạc phải chạy lên Cao Bằng và bị diệt năm 1677.

1.3. Trịnh- Nguyễn phân tranh

Sự phân chia Nam, Bắc triều vừa chấm dứt thì lại xảy ra sự phân chia và chiến tranh Trịnh - Nguyễn. Từ 1627 đến 1672 đã có 7 lần hai họ đánh nhau to, nhưng không thôn tính được nhau, nên phải đình chiến và lấy sông Gianh làm giới tuyến. Ở đàng ngoài hay Bắc hà là chính quyền vua Lê chúa Trịnh, vua

“hữu danh vô thực” phủ chúa nắm hết thực quyền. Ở đàng trong là chính quyền họ Nguyễn, còn được gọi là Nam Hà. Tình hình này kéo dài đến cuối thế kỷ XVIII. Đây là nét nổi bật trong tình hình chính trị - xã hội ở nước ta thời kỳ này.

2. Tình hình kinh tế

Mặc dù chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến kéo dài, nhưng kinh tế ở cả đàng trong và đàng ngoài vẫn có b ước phát triển ở mức độ nhất định. Khai hoang được mở rộng, ở đàng trong cuối thế kỷ XVII lưu dân người Việt đã vào khai thác vùng đất Đồng Nai, sau đó toả ra khắp đồng bằng sông Cửu Long.

Các nghề thủ công, làng thủ công mọc lên nhanh chóng. Thương nghiệp phát triển khá mạnh, ở một số thành thị hình thành những thương cảng lớn về nội ngoại thương như phố Hiến, Hội An.... Các nhân tố chính trị kinh tế lúc bấy giờ đã góp phần quy định đời sống tư tưởng văn hoá của xã hội Việt Nam thế kỷ XVI - XVII.

Chế độ tư hữu lớn dần phát triển, làm phá sản chế độ hạn điền thời kỳ đầu Lê Sơ bị phá sản.

Ở Đàng ngoài, sau khi chiếm được Thăng Long, các thế lực Lê - Trịnh, một mặt tiếp tục tìm cách trấn áp các thế lực còn lại trung thành với nhà Mạc, mặt khác cũng có những cố gắng đáng kể trong phát triển nông nghiệp, chăm lo đến đời sống xã hội, nhằm khắc phục hậu quả của cuộc chiến tranh. Dù không có được sự phát triển mạnh, nhưng trong nông nghiệp như chăn nuôi, trồng tixọt... và tiểu thủ công nghiệp cũng có những khởi sắc, nhất là ở các khu vực kinh thành, các thị trấn, thủ phủ các thành thị lân cận.

Ở Đàng Trong, một phần lớn ruộng đất được tập trung vào tay các gia đình dòng dõi Nhà Chúa, ruộng đất công của làng xã bị thu hẹp. Tuy nhiên, do phần nhiều là đất mới khai phá, mở mang nên năng suất lúa, chăn nuôi tương đối cao. Nhờ vậy, kinh tế cũng có những bước phát triển. Một số đô thị, thương cảng dần hình thành và có sự phát triển ở miền Trung và Nam Trung Bộ ngày nay. Kinh tế hàng hoá tiền tệ, nhờ đó vẫn có điều kiện tiếp tục được duy trì và có bước phát triển.

3. Tình hình văn hoá - xã hội

Trong bối cảnh xã hội khủng hoảng và chia cắt, đất nước triền miên trong loạn lạc, trong các cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, các nhà Nho thế kỷ XVI - XVII tập trung suy nghĩ vào vấn đề làm sao cho đất nước quy về một mối, làm sao cho xã hội được yên vui thái bình. Hầu hết trong số họ đều suy nghĩ về nguồn gốc của loạn lạc và đưa ra đường lối trị nước của mình, mong được xã hội đương thời chấp nhận. Đó là tư tưởng chính trị xã hội nổi bật của tư tưởng Việt Nam thời kỳ này.

Ở thời kỳ này Nho giáo vẫn là công cụ chính của các tập đoàn phong kiến để củng cố chính quyền và trật tự xã hội. Song Nho giáo đã thể hiện sự bất

lực của mình trước các vấn đề của xã hội. Cho nên khuynh hướng tư tưởng chủ đạo lúc này là tư tưởng kết hợp Nho giáo với Lão - Trang (như Nguyễn Bỉnh Khiêm), Nho với Đạo giáo (như Nguyễn Dữ), hoặc kết hợp Nho, Phật, Lão thành một khối. Bởi các trí trức đương thời đã nhận thấy mỗi học thuyết đều chỉ giữ một chức năng hạn chế, nên không thể làm công cụ duy nhất đối phó với một hoàn cảnh đa dạng và phức tạp. Cho nên người ta phải kết hợp chúng lại với nhau mới mong có một thế giới quan hoàn chỉnh để đáp ứng được nhận thức và hành động của con người.

Từ thế kỷ XVI trở đi, tính chất triết học trong tư duy ngày càng thể hiện rõ. Người ta phải bàn tới các cặp phạm trù của triết học phương Đông như mệnh trời và sức người, âm và dương, bỉ và thái, trị và loạn... Quan niệm sống ở hai thế kỷ này đã tỏ ra đa nguyên, đa dạng. Có người thì chủ trương xuất (ra làm quan), nhưng một chủ trương mới là xử (không làm quan), có người xuất rồi sau đó lại xử v.v... Về tính chất xuất - xử trong lúc này cũng có những nét riêng. Người chủ trương xuất thì lại xuất phát từ danh lợi, nên tình cảm với chế độ không mặn mà, tư tưởng không có gì đặc sắc. Chủ trương xử là xu thế chủ yếu lúc này, nhưng cách thức cũng đa dạng, Nguyễn Bỉnh Khiêm từ quan nhưng vẫn mang tư tưởng thương dân, yêu nước, vẫn quyến luyến với luân thường, nhân nghĩa. Xử của Nguyễn Dữ lại thể hiện một thái độ bất hợp tác với triều đình, nhưng vẫn mong chờ có một đường lối chính trị sáng sủa để xuất.

Còn xử của Nguyễn Hàng là xử dứt khoát để được tự do, được sống tuỳ thích...

Qua đó có thể thấy lý tưởng sống của con người lúc đó thực sự ở trong tình trạng khủng hoảng, bế tắc.

Một phần của tài liệu Lịch sử tư tưởng việt nam (Trang 76 - 79)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(140 trang)