Đối với sản xuất

Một phần của tài liệu Dấu ấn Võ Văn Kiệt thời kỳ đổi mới: Phần 1 (Trang 43 - 46)

BỘ TRƯỞNG HỌP TẠI NGHĨA BÌNH

1. Đối với sản xuất

Nghị quyết số 31-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 31/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng đã đặt rõ vấn đề: bằng mọi cách, huy động tối đa lực lượng vật tư, nguyên liệu hiện có của tất cả các ngành, các địa phương, các cơ sở sản xuất, kinh doanh để phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và tiểu, thủ công nghiệp. Đặc biệt chú ý đẩy mạnh sản xuất lương thực và những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu cho đời sống nhân dân.

a) Yêu cầu bức xúc hiện nay là cung ứng phân bón, thuốc trừ sâu, ximăng và các vật tư, nguyên liệu khác cho sản xuất. Nhưng nguồn vật tư nhập về trong quý I/1986 lại thấp: sắt thép 20%; xăng dầu 25%; xút, sôđa: chưa có. Hiện còn đọng ở các nước Đông Âu trên vài chục vạn tấn hàng với trị giá khoảng dăm chục triệu rúp, do chưa có ngoại tệ thuê tàu chuyên chở. Ngoại tệ tư bản thiếu, không đủ nhập phân bón, thuốc trừ sâu, nhập bao cho ximăng, cho phân lân... Chúng ta không có dự trữ; tồn kho lại rất mỏng.

- Trong tình hình đặc biệt này, để đẩy mạnh sản xuất, một mặt chúng ta phải đẩy mạnh khai thác các vật tư, nguyên liệu trong nước, thay thế các loại phải nhập khẩu, mặt khác chúng ta cũng phải áp dụng các biện pháp đặc biệt cấp bách để bổ sung nguồn cung ứng vật tư:

+ Rút từ quỹ hàng tiêu dùng đang bán giá cao;

+ Huy động các loại vật tư tồn đọng chưa dùng đến, đưa vào sản xuất (cả xí nghiệp trung ương và xí nghiệp địa phương).

Thực hiện tốt các kế hoạch nhập khẩu từ các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô, đồng thời tranh thủ xuất nhập khẩu sang thị trường tư bản để nhập bổ sung kịp thời một số phân bón, thuốc trừ sâu...

+ Sử dụng tốt nguồn ngoại tệ tư bản hiện có của các ngành, các địa phương, đồng thời tìm nguồn vay thêm ngoại tệ.

+ Các địa phương trên cơ sở cam kết bảo đảm huy động và giao nộp đủ sản phẩm cho Trung ương theo chỉ tiêu kế hoạch nhà nước, được xuất khẩu một số mặt hàng nông sản, hải sản, lâm sản... để nhập vật tư, nguyên liệu cho sản xuất và hàng tiêu dùng thiết yếu cho người sản xuất (tối đa là 30% số ngoại tệ thu được của địa phương).

+ Ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật; giảm định mức tiêu hao vật tư trên một đơn vị sản phẩm.

+ Tiết kiệm một cách nghiêm ngặt đi đôi với kiên quyết đấu tranh chống ăn cắp, mất mát vật tư và các hiện tượng tiêu cực khác trong mọi khâu, mọi lĩnh vực (cung ứng vận chuyển, bảo quản, sản xuất).

+ Giảm bớt xây dựng cơ bản, giãn, hoãn hoặc đình chỉ thi công các công trình chưa cần thiết, nhất là các công trình phi sản xuất, để rút ra được một số vật liệu xây dựng (ximăng, sắt xây dựng, tấm lợp, gạch ngói...) đưa vào thu mua nông sản.

+ Giảm tới mức tối thiểu hoặc đình chỉ hẳn trong một, hai năm việc mua sắm trang bị cho cơ quan nhà nước, đoàn thể, để dành số này thu mua nông sản hoặc bán thu tiền về.

Ngoài các biện pháp trên, các địa phương các cơ sở còn có thể tìm thêm các biện pháp khác để tạo nguồn bổ sung vật tư, nguyên liệu cho sản xuất.

Phần I: Dấu ấn Võ Văn Kiệt trong lĩnh vực kinh tế

Trong tình hình hiện nay, tìm thêm và đưa thêm được vật tư, nguyên liệu vào sản xuất và thu mua nông sản..., là biện pháp thiết thực để giữ giá thành sản phẩm, giảm khối lượng tiền tung ra thị trường, và giữ hệ thống giá Nhà nước đã quy định. Từ đó, củng cố dần giá trị đồng tiền.

Chúng ta cũng có đề xuất với bạn cho chúng ta nhập bổ sung một số hàng tiêu dùng và nguyên liệu để sản xuất hàng tiêu dùng. Nhưng vấn đề này cũng có khó khăn.

Vì vậy, chúng ta cần thông cảm với khó khăn của đất nước lúc này để cùng nhau khắc phục.

Ủy ban Kế hoạch Nhà nước cần soát xét lại các nguồn vật tư có thể có trong năm 1986, điều chỉnh việc cung ứng, tập trung cho các sản phẩm chủ yếu, các cơ sở trọng điểm, các địa phương trọng điểm.

Nếu địa phương nào có điều kiện tự lo các vật tư, nguyên liệu để tiếp tục sản xuất, thì Trung ương coi như các địa phương cân đối hộ ngành trung ương. Khi Trung ương điều sản phẩm đi, thì phần sản phẩm tương ứng với vật tư, nguyên liệu Trung ương đưa về sẽ tính theo giá giao do Nhà nước chỉ đạo; phần còn lại sẽ tính theo giá thỏa thuận. Các ngành phải cùng địa phương ký ngay hợp đồng. Đối với vật tư đã phân bổ cho ngành mà đến nay ngành chưa phân bổ cho các địa phương, thì Bộ Vật tư, trên cơ sở nắm tình hình nhu cầu của sản xuất và thu mua đối với từng loại cây con, tạm ứng ngay cho các địa phương, để kịp thời vụ, nhất là những nơi sản xuất tập trung. Chủ tịch tỉnh và ủy ban nhân dân phải chịu trách nhiệm cung ứng đúng theo kế hoạch nhà nước.

Khó khăn trước mắt đối với chúng ta là thiếu nhiều thuốc trừ sâu, đang ảnh hưởng lớn đến sản xuất lương thực, cây công nghiệp và nông sản xuất khẩu; trước mắt, địa phương nào có

ngoại tệ, vay được thì chủ động nhập ngay để đảm bảo an toàn cho cây trồng. Trung ương sẽ thanh toán sau cho các đồng chí.

b) Về vấn đề “5 đúng” trong cung ứng vật tư: Chúng ta phải gỡ dần và tìm cách thực hiện. Trước mắt, các ngành cung ứng vật tư phải cố gắng phấn đấu bảo đảm hai đúng, ba đúng rồi tiến đến bốn đúng, năm đúng.

Các tỉnh Tây Nguyên đang gặp khó khăn lớn trong vấn đề được cung ứng vật tư theo giá Nhà nước quy định, vì địa phương phải tự đi vận chuyển lấy vật tư quá xa. Các ngành cung ứng vật tư cần bàn bạc với Bộ Giao thông vận tải để bảo đảm cung ứng vật tư tại địa điểm quy định trong bảng giá. Nếu để cơ sở phải tự đi vận chuyển từ xa, thì cơ quan cung ứng phải trừ lùi giá giao các chi phí vận tải (bao gồm chi phí bốc xếp, phí vận chuyển, hao hụt trong vận chuyển...) hợp lý và hợp lệ (như đồng chí Phan Văn Tiệm, quyền Chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước đã trình bày).

Phải chống cho được các hiện tượng tiêu cực, các phí “lót tay”.

Ủy ban Kế hoạch Nhà nước cùng các ngành có liên quan nghiên cứu việc tập trung đầu mối quản lý và cung ứng vật tư, hiện đang quá phân tán.

c) Đối với loại vật tư do địa phương tự khai thác hoặc nhập khẩu, nếu vì phải bán theo giá của Trung ương quy định mà bị lỗ thì có thể bù lỗ bằng nhiều cách, như đồng chí Phan Văn Tiệm đã trình bày với các đồng chí. Ủy ban Vật giá Nhà nước cần sớm cùng Bộ Tài chính ra văn bản hướng dẫn vấn đề này.

Một phần của tài liệu Dấu ấn Võ Văn Kiệt thời kỳ đổi mới: Phần 1 (Trang 43 - 46)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(668 trang)