PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP NẶNG

Một phần của tài liệu Dấu ấn Võ Văn Kiệt thời kỳ đổi mới: Phần 1 (Trang 152 - 156)

TẠI KỲ HỌP THỨ 2, QUỐC HỘI KHÓA VIII

C- Xuất khẩu và kinh tế đối ngoại

II- PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP NẶNG

Đây là những lĩnh vực rất quan trọng của nền kinh tế nhưng chưa bảo đảm được ở mức tối thiểu cần thiết về năng lượng, nguyên liệu, vật tư, thiết bị phụ tùng cho các ngành, các địa phương và cơ sở và cũng chính vì vậy đã hạn chế khả năng phục vụ ba chương trình kinh tế, nhất là chương trình lương thực - thực phẩm. Đó là một thực tế khách quan mà chúng ta chưa thể khắc phục trong thời gian ngắn, nó chỉ có thể giải quyết từng bước trong suốt quá trình công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Nhiệm vụ đặt ra trong những năm tới là tận dụng các cơ sở và năng lực hiện có bằng cách đầu tư chiều sâu, cải tạo thiết bị, xây dựng mới những cơ sở thật cấp thiết mà khả năng vốn đầu tư cho phép; mở rộng nhiều hình thức hợp tác quốc tế, nhất là lĩnh vực luyện kim, cơ khí, điện tử; đưa các cơ sở công nghiệp nặng chuyển sang hạch toán kinh doanh với những hình thức và bước đi thích hợp với từng ngành, từng cơ sở.

Phần I: Dấu ấn Võ Văn Kiệt trong lĩnh vực kinh tế

Về năng lượng:

Tiếp tục tập trung đầu tư để năm 1989, huy động toàn bộ 4 tổ máy của thủy điện Trị An, năm 1990, huy động 3 tổ máy của thủy điện Hòa Bình. Để đồng bộ với nguồn điện, phải hoàn thành xây dựng đường dây 220 kV và các trạm biến thế. Hoàn thành cải tạo lưới điện Hà Nội, Hải Phòng và tiến hành cải tạo lưới điện Thành phố Hồ Chí Minh. Sản lượng điện năm 1988 là 6,7 tỉ kWh, năm 1990 là 8,3 tỉ kWh.

Hoàn thành xây dựng một số mỏ than quan trọng, cải tạo các nhà sàng Cửa Ông, Hồng Gai, để nâng chất lượng than, tiến tới bỏ việc sàng than tại mỏ. Sản lượng than năm 1988 là 6,8 triệu tấn, năm 1990 là 7,5 triệu tấn. Tăng khối lượng đầu tư cho dầu khí năm 1988 gấp đôi năm 1987.

Với nguồn năng lượng còn hạn chế, trước mắt phải phân phối cho các đối tượng ưu tiên và sử dụng tiết kiệm điện năm 1990 sẽ được cải thiện rõ rệt ở Bắc Bộ và Nam Bộ. Nhưng ở miền Trung còn nhiều khó khăn, sẽ bổ sung các cụm điêden, hoàn thành xây dựng đường dây cao thế Vinh - Đà Nẵng vào năm 1990, đẩy mạnh thi công thủy điện An Điềm, Vĩnh Sơn.

Tích cực chuẩn bị để xây dựng thủy điện Hàm Thuận, Sông Hinh, Yali; nghiên cứu và triển khai sớm việc sử dụng nguồn khí ở miền Nam và miền Bắc vào sản xuất phân đạm với quy mô thích hợp. Xúc tiến xây dựng và khai thác các mỏ than nhỏ ở các địa phương, các trạm thủy điện nhỏ ở các vùng. Tranh thủ sử dụng các nguồn và dạng năng lượng khác như bức xạ mặt trời, sức gió, khí mêtan...

Về cơ khí, điện tử:

Sắp xếp lại sản xuất cơ khí, quan tâm đặc biệt về chất lượng và hiệu quả. Ưu tiên vật tư, nguyên liệu cho các sản phẩm và cơ

sở sản xuất trọng điểm; bảo đảm yêu cầu cấp bách về sửa chữa và trang bị công cụ, máy móc, thiết bị và phụ tùng thông thường cho các ngành, các địa phương. Tăng sản xuất các loại công cụ thường, công cụ cải tiến, bơm thuốc trừ sâu, thiết bị chế biến nông sản, các loại phương tiện phục vụ giao thông vận tải.

Mở rộng hợp tác sản xuất cơ khí, điện tử với các nước trong Hội đồng Tương trợ kinh tế, tranh thủ vốn và kỹ thuật của các nước khác để bổ sung cho ngành cơ khí và điện tử.

Giá trị sản lượng cơ khí năm 1988 tăng 11% so với năm 1987 và bình quân 3 năm 1988 - 1990 tăng 13%.

Công nghiệp nguyên liệu và vật liệu:

Đầu tư chiều sâu cho liên hiệp gang thép Thái Nguyên và liên hiệp cán thép miền Nam, phát huy tốt năng lực các lò điện để tăng thép đúc các loại, nâng sản lượng các loại thép chất lượng.

Bổ sung thiết bị và tổ chức sửa chữa các thiết bị hiện có để khai thác tốt công suất 2 mỏ thiếc Tĩnh Túc và Sơn Dương. Hoàn thành xây dựng liên hiệp thiếc Quỳ Hợp. Triển khai nghiên cứu và chuẩn bị khai thác bốcxít, đất hiếm để có thể tiến hành trong kế hoạch 5 năm sau.

Đưa sản lượng phân lân các loại năm 1988, lên 45 vạn tấn và năm 1990: 60 vạn tấn. Mở rộng nhà máy super phốt phát Lâm Thao lên 50 vạn tấn và chuẩn bị để năm 1990, mở rộng lên 1 triệu tấn. Hoàn thành cơ bản việc xây dựng khu mỏ apatít và nhà máy tuyển quặng vào cuối năm 1990. Tăng mức sản xuất một số loại hóa chất chủ yếu khác để đáp ứng nhu cầu của sản xuất và xây dựng.

Hoàn thành xây dựng đồng bộ các nhà máy ximăng Hoàng Thạch, Bỉm Sơn; hoàn chỉnh việc mở rộng nhà máy ximăng Hà Tiên, đồng thời, huy động các cơ sở sản xuất ximăng nhỏ ở các

Phần I: Dấu ấn Võ Văn Kiệt trong lĩnh vực kinh tế

ngành và địa phương. Sản lượng ximăng năm 1988: 1,8 triệu tấn và năm 1990: 2,6 triệu tấn.

Chú trọng phát triển gạch ngói cả trong khu vực quốc doanh và tiểu, thủ công nghiệp. Phát triển hơn nữa các loại vật liệu xây dựng khác như đá chẻ, vật liệu không nung, v.v. ở tất cả các địa phương. Hoàn thành xây dựng và đưa vào sản xuất nhà máy kính Đáp Cầu vào giữa năm 1989.

Về giao thông vận tải, bưu điện:

Ba năm tới, để đáp ứng nhu cầu của các ngành đòi hỏi khối lượng vận tải tăng bình quân hàng năm 6 - 7%. Vấn đề quan trọng hàng đầu là đi đôi với việc tăng đầu tư của Nhà nước, phải sửa đổi cơ chế chính sách đối với ngành giao thông vận tải đúng với tính chất là một ngành sản xuất vật chất, thực hiện cơ chế hạch toán kinh doanh, từng bước xóa bỏ bao cấp, không bù lỗ, tiến tới có lãi.

Sắp xếp lại mạng lưới vận tải ô tô hợp lý trên từng khu vực và trong cả nước theo hướng tăng năng lực vận tải công cộng. Phân công, phân cấp giữa Trung ương và địa phương trong việc vận tải hàng hóa liên tỉnh, tăng vận tải hai chiều. Đưa các tiến bộ kỹ thuật vào vận tải, xếp dỡ để tăng năng suất, giảm tiêu hao nhiên liệu. Ban hành các chính sách khuyến khích phát triển mạnh vận tải thô sơ ở huyện, xã và ngoại ô thành phố. Củng cố một số tuyến quốc lộ quan trọng. Nhà nước hỗ trợ vốn cho các tỉnh miền núi để tu sửa và mở thêm đường ở những nơi cần thiết.

Đưa nhanh vào sử dụng các tuyến đường sắt phục vụ vận chuyển than cho ximăng, cho nhà máy điện. Củng cố tuyến đường sắt phía tây để vận chuyển apatít. Tiếp tục củng cố đường sắt Thống Nhất. Ngay trong năm 1988, cải tạo những đoạn đường

sắt xung yếu, sửa chữa những đoạn hư hỏng nặng, trang bị thêm thiết bị bốc dỡ.

- Bảo đảm vốn và xăng dầu để nạo vét luồng lạch ở các cảng Hải Phòng, Cửa Lò và một số cửa biển, cửa sông quan trọng.

Phát triển vận tải sông, chuyển mạnh sang vận tải sông ở những nơi có điều kiện, bảo đảm đưa những loại hàng có khối lượng lớn như than, ximăng, lương thực, v.v. về các khu vực tập kết để tiết kiệm xăng dầu. Đưa hàng thẳng lên Hà Tuyên, Hòa Bình, Việt Trì, v.v. bằng đường sông. Hoàn thiện các cảng sông Việt Trì, Hà Nội, Cần Thơ, Mỹ Tho, v.v. nạo vét luồng lạch, tăng thiết bị bốc dỡ, để giảm nhanh thời gian quay vòng phương tiện.

- Sửa lại giá cước, kể cả vận tải hàng hóa và vận tải hành khách; ban hành sớm chế độ thu phí giao thông thủy, bộ, để có thêm vốn duy tu, bảo dưỡng, chặn đứng tình trạng xuống cấp của cơ sở vật chất kỹ thuật.

Về thông tin bưu điện, chú trọng nâng cao chất lượng, đưa giá trị nghiệp vụ bưu điện tăng bình quân hàng năm 5 - 7%.

Hoàn thành xây dựng trạm mặt đất Intelsat, các tổng đài nội hạt, tiếp tục xây dựng viba băng rộng do Liên Xô giúp.

Một phần của tài liệu Dấu ấn Võ Văn Kiệt thời kỳ đổi mới: Phần 1 (Trang 152 - 156)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(668 trang)