Vấn đề cung ứng vật tư cho sản xuất và thu mua lương thực và nông sản

Một phần của tài liệu Dấu ấn Võ Văn Kiệt thời kỳ đổi mới: Phần 1 (Trang 32 - 35)

BẮC BỘ VÀ BẮC TRUNG BỘ

1. Vấn đề cung ứng vật tư cho sản xuất và thu mua lương thực và nông sản

Như nghị quyết của Bộ Chính trị và của Hội đồng Bộ trưởng đã nhấn mạnh, phải đặc biệt coi trọng các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất, kể cả nông nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.

Một số địa phương có nêu kiến nghị về các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất và thu mua (như về lạc, thuốc lá, mía...), Ủy ban Kế hoạch Nhà nước sẽ xem xét và cùng các ngành giải quyết cụ thể;

song đây là những cây công nghiệp đặc biệt quan trọng, đề nghị các địa phương cố gắng phấn đấu đến mức cao nhất để bảo đảm diện tích và sản lượng.

Nghị quyết số 31/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng đã nêu ra những biện pháp có tính chất cấp bách để cố gắng tăng thêm vật tư cung ứng cho sản xuất và thu mua lương thực và nông sản.

Đề nghị các địa phương cùng các ngành thực hiện với tinh thần khẩn trương nhất.

Trong các biện pháp có việc giảm vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Đúng đây là hạ sách, như có đồng chí nói, song cũng là một biện pháp cấp bách, đặc biệt phải thực hiện. Trước đây, khi xây dựng kế hoạch năm 1986, yêu cầu của các ngành và các địa phương về đầu tư xây dựng cơ bản công là 54 tỉ đồng, trong đó riêng các địa phương là 19 tỉ đồng; sau đó, cân đối các mặt, chỉ bảo đảm 20 tỉ đồng. Đến nay, phải giảm bớt, để dành một số vật liệu xây dựng trao đổi với nông dân lấy lương thực, nông sản.

Phần I: Dấu ấn Võ Văn Kiệt trong lĩnh vực kinh tế

Đề nghị các địa phương soát xét kỹ các công trình, cũng với tinh thần đặc biệt, việc gì chưa thật cấp bách thì cũng nên cố gắng chịu đựng thêm 1 - 2 năm.

Về cung ứng vật tư, có một số điểm cần lưu ý:

a) Yêu cầu là phải thực hiện 5 đúng: số lượng, chất lượng, địa điểm, thời gian và giá chỉ đạo của Nhà nước. Nếu vì lý do khách quan mà không bảo đảm giao đúng thời gian và số lượng thì cần thông báo kịp thời cho các hộ tiêu thụ để cùng nhau khắc phục.

Vật tư phải giao tại địa điểm ghi trong bảng giá. Nếu vì trường hợp các cơ sở phải đi vận chuyển vật tư (được phân phối theo kế hoạch) từ xa về, thì cơ quan cung ứng vật tư phải trừ vào giá giao những chi phí vận chuyển (bao gồm: phí bốc xếp, phí vận chuyển, hao hụt trong vận chuyển...) theo giá cước Nhà nước quy định.

Bộ Xây dựng vừa qua đã ban hành quy định tạm thời mức chiết khấu vật tư ximăng bao từ các nhà máy về đến từng tỉnh, thành phố, đặc khu, và được áp dụng từ ngày 01/10/1985, để các địa phương tự vận chuyển ximăng được tính bằng giá bán buôn vật tư trừ lùi chiết khấu đã được quy định. Đối với ximăng rời, Ủy ban Vật giá Nhà nước và Bộ Xây dựng cần tính toán trừ các chi phí về bao, về đóng gói...

Đối với vật tư khác, Ủy ban Vật giá Nhà nước và các bộ có trách nhiệm cung ứng vật tư cần tính toán một cách hợp lý về những chi phí cần thiết đối với vật tư mà cơ sở tiêu thụ phải tự đi vận chuyển từ xa về.

b) Về mặt bảo đảm giá vật tư

- Nếu là loại vật tư cơ bản do Trung ương thống nhất chỉ đạo giá thì bán theo giá Hội đồng Bộ trưởng quy định (dù là các vật tư do địa phương tự nhập bằng nguồn ngoại tệ tự có, hoặc tự sản xuất, khai thác ở trong nước).

Nếu giá vật tư của địa phương nhập hoặc tự khai thác lại cao hơn giá Hội đồng Bộ trưởng quy định, thì được bù lỗ để bảo đảm giữ quan hệ tỷ giá công - nông nghiệp hoặc đã được xác định hợp lý, ổn định giá thành sản xuất; và bảo đảm cho người nhập khẩu, người sản xuất đủ chi phí hợp lý và có lãi thỏa đáng. Cách bù lỗ vật tư do địa phương nhập khẩu:

+ Xác định tỷ giá kết toán nội bộ, các tỷ giá thanh toán theo nhóm hàng xuất khẩu và nhập khẩu.

+ Lập quỹ thu bù chênh lệch ngoại thương.

+ Cũng có thể dùng ngay các vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất ra hàng hóa, bán lấy một phần lãi, bù vào lỗ này.

Bộ Tài chính, Ủy ban Vật giá Nhà nước và các ngành có trách nhiệm cần nghiên cứu sớm các cách bù lỗ khác đối với vật tư do địa phương tự khai thác mà bán theo giá Hội đồng Bộ trưởng quy định.

- Nếu là loại vật tư quan trọng nhưng không do Trung ương thống nhất chỉ đạo giá, thì các bộ, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quyết định, đảm bảo cho sản xuất và kinh doanh có hiệu quả.

Ủy ban Vật giá Nhà nước chỉ đạo hướng dẫn khung giá.

c) Các bộ phải trên cơ sở chỉ tiêu kế hoạch nhà nước, ký kết hợp đồng ngay với các tỉnh, thành phố. Không nên để địa phương trông chờ. Các tỉnh và thành phố, trên cơ sở hợp đồng ký kết với các bộ, cùng với các vật tư, hàng hóa tự khai thác trong nước hay nhập khẩu, tiến hành ký kết các hợp đồng với các quận, huyện, các cơ sở kinh tế trong tỉnh...

d) Một vấn đề rất nhức nhối trong chúng ta là làm sao chống các hiện tượng tiêu cực trong việc cung ứng vật tư. Làm sao giảm được các phí tiêu cực, tiến tới xóa bỏ hẳn phí tiêu cực.

Phần I: Dấu ấn Võ Văn Kiệt trong lĩnh vực kinh tế

Đề nghị Ủy ban Thanh tra Nhà nước, Bộ Nội vụ phối hợp với nhau, bàn cách chống các hiện tượng này; ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố cũng cần kết hợp chặt chẽ trong công tác này. Đặc biệt là các bộ chủ quản phải chịu trách nhiệm kiểm tra chặt chẽ các tổ chức cung ứng vật tư của bộ mình.

Một phần của tài liệu Dấu ấn Võ Văn Kiệt thời kỳ đổi mới: Phần 1 (Trang 32 - 35)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(668 trang)