Những vấn đề chủ yếu về kinh tế - xã hội năm 1989 Ngày 13 tháng 12 năm 1988
Thưa Đoàn Chủ tịch,
Thưa các đồng chí đại biểu Quốc hội,
Hội đồng Bộ trưởng đã xây dựng dự án kế hoạch kinh tế - xã hội năm 1989 trình Quốc hội, trong đó có dự án kế hoạch của các ngành, các địa phương. Trong báo cáo này, tôi xin thay mặt Hội đồng Bộ trưởng trình bày tập trung vào một số điểm về phương hướng, chủ trương và những biện pháp lớn.
Phần thứ nhất
NHẬN ĐỊNH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 1988
Thưa các đồng chí đại biểu Quốc hội,
Kế hoạch nhà nước năm 1988 được Quốc hội thông qua trong Kỳ họp thứ 2 với những nội dung chủ yếu như sau: tập trung thực hiện các mục tiêu về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; tạo chuyển biến trên mặt trận phân phối, lưu thông; chuyển các hoạt động kinh tế sang kinh doanh xã hội chủ nghĩa; phát huy khả năng tích cực của các thành phần kinh tế,
đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh; giải quyết một số vấn đề cấp bách trong giáo dục, y tế, văn hóa...
Năm 1988, vượt qua nhiều khó khăn, trở ngại, chúng ta đã đạt được một số tiến bộ trong việc thực hiện các mục tiêu về lương thực, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, về xây dựng cơ bản, phát triển công nghiệp và giao thông vận tải, về các hoạt động khoa học kỹ thuật, văn hóa, xã hội và trong việc xây dựng một số chính sách, bước đầu đưa cơ chế quản lý mới vào thực tiễn.
Sản xuất tiếp tục tăng trưởng, tổng sản phẩm xã hội tăng 5,4%
thu nhập quốc dân tăng 5,8% so với năm 1987. Sản lượng công nghiệp tăng 9%, trong đó công nghiệp hàng tiêu dùng tăng 11%.
Sản xuất hàng tiêu dùng phong phú, đa dạng hơn, đã bước đầu gắn với thị trường. Sản lượng nông nghiệp tăng 4,1%, riêng lương thực tăng 8,5%, có thể đạt kế hoạch 19 triệu tấn (quy thóc); một số cây công nghiệp dài ngày tăng đáng kể, nhất là trong khu vực gia đình. Tuy hiệu quả sản xuất nói chung còn thấp, yêu cầu nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm vẫn đang là những vấn đề phải đặc biệt quan tâm, nhưng trong hầu khắp các ngành và địa phương đã xuất hiện nhiều đơn vị làm ăn năng động theo cơ chế mới, thu được kết quả rõ rệt. Từ những mô hình đó, có thể rút ra nhiều bài học kinh nghiệm bổ ích và sinh động, chứng minh sức sống của cơ chế quản lý mới.
Do khó khăn về ngân sách, vốn đầu tư tập trung của Nhà nước không đáp ứng nhiều yêu cầu cấp bách, nhưng chúng ta vẫn cố gắng bảo đảm tiến độ xây dựng các công trình trọng điểm Nhà nước. Trong năm nay, việc đưa tổ máy 1 và 2 của Thủy điện Trị An và tổ máy 1 của Thủy điện Hòa Bình vào hoạt động, sẽ cải thiện dần tình hình cung cấp điện. Bên cạnh đó, các ngành,
Phần I: Dấu ấn Võ Văn Kiệt trong lĩnh vực kinh tế
các địa phương và cơ sở đã chủ động tìm thêm các nguồn vốn khác, góp phần bảo đảm khối lượng xây dựng, đáp ứng một phần nhu cầu của sản xuất và đời sống.
Năm 1988, đánh dấu bước mở đầu của quá trình dân chủ hóa các hoạt động kinh tế - xã hội, giải phóng sức sản xuất. Quyết định số 217 của Hội đồng Bộ trưởng cùng những văn bản thể chế hóa các Nghị quyết số 10 và số 16 của Bộ Chính trị, đã tháo gỡ một phần những trói buộc lâu nay của cơ chế cũ, bước đầu khơi dậy các nguồn tiềm năng to lớn về mọi mặt của nhân dân lao động thuộc các thành phần kinh tế nhằm mở rộng sản xuất - kinh doanh, phục vụ nhu cầu xã hội, tạo ra những động lực mới để giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội ở nước ta. Tuy nhiên, kết quả thu được đang còn nhiều hạn chế, đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới và triển khai đồng bộ trong thực tế.
Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách tạo điều kiện cho các đơn vị cơ sở đi dần vào hạch toán kinh doanh: giảm bớt chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh; điều chỉnh giá vật tư, năng lượng theo hướng dần dần phù hợp với thực tế; giá bán của phần lớn hàng hóa ít bị gò bó bởi những quy định mang tính quan liêu hành chính, sản xuất và thị trường ngày càng có mối liên hệ trực tiếp gắn bó hơn... Những quy định mới đó đã tạo môi trường thuận lợi cho các cơ sở phát huy quyền chủ động theo hướng hạch toán kinh doanh, giảm bù lỗ qua ngân sách nhà nước và hạn chế mức chênh lệch giá xóa bỏ bao cấp qua lương của khu vực sản xuất - kinh doanh... Những chuyển biến đó tuy chưa nhiều nhưng đã cho chúng ta một số kinh nghiệm tốt để tiếp tục cụ thể hóa và bổ sung các chính sách nhằm phát triển kinh tế hàng hóa lên một bước cao hơn.
Hình dung ngày một rõ hơn cung cách làm ăn mới, và cũng do đòi hỏi của cung cách mới đó, các ngành, các cấp, đã bắt đầu sắp xếp lại tổ chức và bộ máy, xóa dần những khâu trung gian không cần thiết và có hại đang cản trở hoạt động bình thường của nền kinh tế, giảm bớt những bộ phận và những người không trực tiếp góp phần tạo ra của cải vật chất, dịch vụ và văn hóa cho xã hội.
Hoạt động kinh tế đối ngoại có bước tiến mới. Kim ngạch xuất khẩu đạt kế hoạch và tăng 13,5% so với năm 1987. Một số loại vật tư chủ yếu như xăng dầu, phân bón, v.v. bảo đảm mức kế hoạch nhập. Các hình thức hợp tác, liên doanh trực tiếp bắt đầu phát triển. Quan hệ hợp tác kinh tế và khoa học - kỹ thuật giữa nước ta với Liên Xô và các nước anh em khác vừa tăng về khối lượng, vừa nâng dần hiệu quả kinh doanh. Việc ban hành Luật đầu tư đã thu hút trên 50 dự án, chủ yếu là thuộc các lĩnh vực dầu khí, thủy sản, du lịch, v.v. với số vốn chưa nhiều, song đó là dấu hiệu mới, thể hiện chiều hướng mở rộng các quan hệ quốc tế.
Bên cạnh những tiến bộ đã đạt được, hiện đang nổi lên những vấn đề lớn sau đây:
Sản xuất lương thực tuy đạt kế hoạch, dự trữ có tăng nhưng chưa đủ vững chắc. Một số địa phương gặp thiên tai nặng, thất thu nghiêm trọng (Nghệ - Tĩnh, một số tỉnh duyên hải miền Trung...). Đáng chú ý là màu không những không tăng mà còn giảm sút.
Mặc dầu giá vật tư điều chỉnh còn thấp so với giá trị, hao phí tài sản cố định chưa tính đủ, song giá thành sản phẩm của không ít xí nghiệp vẫn cao, khó tiêu thụ, gây nên tình trạng thiếu vốn sản xuất. Điều đó, một mặt là do cơ chế mới chưa được hình thành một cách đồng bộ; mặt khác, trình độ quản lý cũng như điều kiện hoạt động của các xí nghiệp rất khác nhau, cho nên,
Phần I: Dấu ấn Võ Văn Kiệt trong lĩnh vực kinh tế
trong cùng điều kiện của cơ chế, chính sách và mức giá như nhau, có xí nghiệp sản xuất đạt hiệu quả và thu nhập của người lao động tương đối khá, ngược lại, có xí nghiệp vẫn đang trì trệ.
Hiện tượng không hợp lý vẫn tiếp tục diễn ra: đáng lẽ xí nghiệp quốc doanh phải nộp lãi cho Nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chung, thì Nhà nước lại phải bù lỗ, “nuôi” xí nghiệp. Tình hình đó đòi hỏi sự chỉ đạo quản lý công nghiệp phải sâu sát, có giải pháp đúng đắn về từng vấn đề cụ thể cho từng xí nghiệp; đồng thời, phải rà soát lại những xí nghiệp làm ăn kém, thua lỗ để có cách xử lý thích hợp.
Trong ngành giao thông vận tải, cơ sở vật chất tiếp tục xuống cấp, chủ yếu là do vốn đầu tư mấy năm gần đây không được bố trí tương xứng. Ngoài ra, công tác tổ chức, quản lý giao thông và vận tải chưa được nâng lên kịp với yêu cầu.
Đáng chú ý là tình trạng đầu tư xây dựng cơ bản ở một số ngành và địa phương vẫn đang còn phân tán, vượt quá khả năng cân đối vật tư, ảnh hưởng đến việc tập trung cho các nhu cầu thiết yếu khác của Trung ương và địa phương.
Do tỷ giá hối đoái, nhất là cơ chế quản lý và xác định giá chậm được sửa đổi nên hàng xuất khẩu tiếp tục bị lỗ, khiến các tổng công ty ngoại thương không có khả năng nắm hàng và còn mắc nợ nhiều cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu. Mặt khác, việc mua hàng xuất khẩu vẫn qua nhiều nấc trung gian, chịu nhiều loại thuế và chi phí bất hợp lý, đẩy giá thành lên cao, làm cho xuất khẩu kém hiệu quả buộc ngân sách nhà nước phải bù lỗ, người sản xuất bị thiệt thòi.
Hàng hóa trên thị trường xã hội từ nhiều nguồn khác nhau khá phong phú, lưu thông nhộn nhịp, nhưng thương nghiệp xã hội chủ nghĩa vẫn đang vướng trong cơ chế cũ, nên chưa có khả