VỀ PHÂN PHỐI LƯU THÔNG

Một phần của tài liệu Dấu ấn Võ Văn Kiệt thời kỳ đổi mới: Phần 1 (Trang 158 - 162)

TẠI KỲ HỌP THỨ 2, QUỐC HỘI KHÓA VIII

C- Xuất khẩu và kinh tế đối ngoại

IV- VỀ PHÂN PHỐI LƯU THÔNG

Ba năm tới, thay đổi một cách cơ bản tình trạng nóng bỏng và rối ren kéo dài trong lĩnh vực này là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng. Thực hiện những mục tiêu và định hướng của các Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2, thứ 3, thứ 4 của Trung ương, trong năm 1988 chuyển các hoạt động kinh tế sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa bằng những bước đi tích cực, vững chắc trên cơ sở những phương án đồng bộ, nhằm tiến tới ổn định một bước quan trọng tình hình phân phối lưu thông. Điều quan trọng bậc nhất và tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá các biện pháp, chính sách về phân phối lưu thông là phải nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả.

1. Về giá

Chuyển nền kinh tế sang hạch toán kinh doanh, nhất thiết phải sửa đổi các loại giá và tỷ giá, không thể để tình trạng giá và tỷ giá không phù hợp như hiện nay. Từ năm 1988, áp dụng phổ biến giá thỏa thuận trong quan hệ mua, bán vật tư, sản phẩm giữa Nhà nước với các cơ sở và người sản xuất; áp dụng sớm và phổ biến cơ chế một giá kinh doanh đối với mọi loại vật tư, hàng hóa.

Phần I: Dấu ấn Võ Văn Kiệt trong lĩnh vực kinh tế

Cải tiến cơ chế định giá và phân cấp quản lý giá, bảo đảm Trung ương quản lý được giá những vật tư, hàng hóa và dịch vụ trọng yếu nhất của nền kinh tế quốc dân.

Để thúc đẩy các xí nghiệp đổi mới quản lý, phải từng bước thực hiện tính đúng, tính đủ giá vật tư, nguyên liệu, năng lượng và xử lý giá tiêu thụ một cách hợp lý, loại bỏ những chi phí bất hợp lý, bảo đảm cho các xí nghiệp sản xuất kinh doanh có lãi và không gây biến động đến các loại giá đã hình thành trên thị trường.

Đối với lương thực, Hội đồng Bộ trưởng hướng dẫn giá mua, bán trên cơ sở thực hiện kinh doanh lương thực, bảo đảm cho người sản xuất lương thực có lãi thỏa đáng, nhất thiết không được ép cấp, ép giá với người sản xuất, đồng thời giá bán lương thực phải bảo đảm quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng.

Tỷ giá giữa đồng tiền Việt Nam với đồng rúp, đồng đô la và các ngoại tệ khác cũng phải được xác định lại, tạo điều kiện xác định nhiều loại giá vật tư, nguyên liệu, v.v. để thật sự xóa bỏ bao cấp qua giá, xóa bỏ từng bước bù lỗ xuất nhập khẩu.

2. Về tài chính

Ngay từ năm 1988, phấn đấu hạ thấp tỷ lệ bội chi ngân sách trên cơ sở tăng thu theo đúng chính sách, chống thất thu, hạn chế, tiến tới xóa bỏ phát hành cho nhu cầu chi về tiêu dùng. Thay đổi dần cơ cấu ngân sách theo hướng phục vụ xây dựng và phát triển kinh tế; thúc đẩy và tạo điều kiện để chuyển nền kinh tế sang hạch toán kinh doanh, phản ảnh tình trạng sản xuất, kinh doanh một cách chân thật, chấm dứt tình trạng “lãi giả, lỗ thật”.

Ban hành ngay từ đầu 1988 chế độ phân cấp ngân sách nhà nước theo nguyên tắc thực hiện việc điều hành thống nhất hệ

thống ngân sách nhà nước trong phạm vi cả nước, trên cơ sở phân biệt và kết hợp tốt chức năng quản lý kinh doanh, bảo đảm lợi ích giữa Nhà nước, địa phương và cơ sở, thực hiện một chính sách thu chi thống nhất.

3. Tiền tệ

Phấn đấu giảm dần tỷ lệ bội chi tiền mặt, khẩn trương chuyển ngân hàng sang kinh doanh, mở thêm ngân hàng nông nghiệp (bao gồm cả lâm, ngư nghiệp), ngân hàng công nghiệp, để thực hiện tốt chức năng kinh doanh tiền tệ, tăng vòng quay đồng tiền.

Cải tiến phương thức thanh toán, mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt, vừa tăng cường quản lý tiền mặt, vừa bảo đảm nhu cầu tiền tệ cho sản xuất, kinh doanh. Ngân hàng bảo đảm nhu cầu vốn vay bằng nguồn vốn huy động, về cơ bản không dùng tiền phát hành để cho vay.

4. Tiền lương

Hệ thống tiền lương của ta hiện nay còn nhiều nhược điểm, từ chế độ lương đến thang, bậc lương đều mang nặng tính bao cấp, bình quân. Nó đang dung dưỡng cho lối làm ăn tùy tiện, lười biếng, không thúc đẩy năng suất, chất lượng, hiệu quả. Phải khẩn trương nghiên cứu cải tiến một cách cơ bản chế độ và hệ thống tiền lương, theo hướng phân phối theo lao động, tạo điều kiện đi vào hạch toán kinh doanh.

Trước mắt, bảo đảm thu nhập thực tế của người hưởng lương trên cơ sở phát triển sản xuất, tăng ngân sách lao động, tăng hiệu quả kinh tế, hiệu quả công tác và tích cực giản biên chế.

Loại bỏ những bất hợp lý mới phát sinh, khôi phục phụ cấp thâm niên cho một số ngành nghề; tách phụ cấp chức vụ ra khỏi lương

Phần I: Dấu ấn Võ Văn Kiệt trong lĩnh vực kinh tế

cơ bản; có một số khoản phụ cấp cho một số đối tượng như y sĩ, bác sĩ, giáo viên, văn nghệ sĩ, nhà khoa học, v.v. tách chính sách xã hội ra khỏi chính sách lương, thực hiện trích lập quỹ bảo hiểm xã hội.

Đối với khu vực sản xuất, kinh doanh, gắn tiền lương với năng suất lao động và hiệu quả kinh tế; làm thí điểm và tiến tới thực hiện chế độ xí nghiệp chịu trách nhiệm trả lương trên cơ sở thu nhập của xí nghiệp. Những xí nghiệp sản xuất - kinh doanh có hiệu quả và người lao động làm việc có năng suất cao phải có thu nhập cao. Nhà nước không khống chế mức thu nhập tối đa và có những biện pháp điều tiết những thu nhập cao; ngược lại, những xí nghiệp và người lao động làm ăn kém, thì thu nhập thấp, đó cũng là công bằng xã hội.

Đối với khu vực hành chính, tiền lương phải bảo đảm tái sản xuất sức lao động; dựa trên cơ sở kiên quyết tinh giản biên chế, tăng thu cho ngân sách và triệt để tiết kiệm chi tiêu hành chính mà từng bước nâng mức lương thực tế.

5. Lưu thông vật tư, hàng hóa

Việc cung ứng vật tư phải ưu tiên cho 3 chương trình kinh tế, cho các sản phẩm chủ yếu, cơ sở sản xuất trọng điểm và công trình xây dựng trọng điểm. Tất cả các khâu thuộc mọi lĩnh vực đều phải tiết kiệm 5 - 10% vật tư, năng lượng, v.v. và được thể hiện ngay trong chỉ tiêu kế hoạch nhà nước. Tổ chức chặt chẽ việc quyết toán vật tư, buộc các cơ quan sử dụng phải sắp xếp lại sản xuất để sử dụng có hiệu quả theo mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch.

Từ nay, giao chỉ tiêu pháp lệnh về các loại vật tư do Nhà nước quản lý cho cơ quan kinh doanh vật tư, đồng thời thông báo hạn mức cho cơ quan sử dụng để hai bên chủ động ký kết hợp đồng

kinh tế, gắn hợp đồng bán vật tư với hợp đồng bán sản phẩm.

Chấn chỉnh tổ chức kinh doanh vật tư, bớt trung gian, bớt đầu mối, đưa thẳng vật tư đến đơn vị và người sử dụng.

Chuyển hoạt động nội thương sang kinh doanh, chấm dứt các hoạt động theo lối phân phối hàng hóa của cơ chế bao cấp. Xóa bỏ tình trạng hàng hóa lưu thông qua nhiều khâu trung gian, nhiều đầu mối, chia cắt theo cấp quản lý hành chính. Thương nghiệp xã hội chủ nghĩa, bằng những biện pháp và phương thức thích hợp đối với từng loại hàng, từng địa bàn và thành phần kinh tế, vươn lên kinh doanh đại bộ phận hàng hóa thuộc nhiều nguồn khác nhau trong xã hội (chứ không chỉ đóng khung trong số hàng hóa của nhà nước trung ương), phấn đấu mua tận gốc, bán tận ngọn, chủ động điều tiết cung cầu.

Chấn chỉnh và củng cố hợp tác xã mua bán thực sự là một tổ chức kinh tế, xã hội của tập thể nhân dân lao động, đại lý mua bán cho quốc doanh; loại bỏ tư sản thương nghiệp, sắp xếp và sử dụng hợp lý tiểu thương; trừng trị nghiêm khắc bọn đầu cơ, buôn lậu, sản xuất và tiêu thụ hàng giả. Các cơ quan, đơn vị không có chức năng buôn bán phải chấm dứt ngay kinh doanh thương nghiệp;

các địa phương kiểm tra ngay việc này từ tháng 01 năm 1988.

Năm 1988, chủ yếu bằng phương pháp kinh doanh kết hợp với biện pháp hành chính, Nhà nước nắm đại bộ phận bán buôn, thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán chiếm 70 - 75% và năm 1990, chiếm 80 - 85% doanh số bán lẻ trên thị trường xã hội.

Một phần của tài liệu Dấu ấn Võ Văn Kiệt thời kỳ đổi mới: Phần 1 (Trang 158 - 162)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(668 trang)