TẠI KỲ HỌP THỨ 2, QUỐC HỘI KHÓA VIII
A- Về lương thực - thực phẩm
5. Đổi mới chính sách đối với nông nghiệp và nông dân
Ngoài thuế là nghĩa vụ bắt buộc, mọi quan hệ mua bán giữa các tổ chức kinh tế nhà nước với nông dân đều phải theo đúng nguyên tắc thuận mua, vừa bán, thật sự bình đẳng; xóa bỏ các khoản “phụ thu lạm bổ” của bất cứ ngành nào và cấp nào đối với nông dân. Việc huy động sức dân vào các công trình phúc lợi xã hội là cần thiết, song không được huy động bằng sản phẩm, làm thiệt hại đến thu nhập chính đáng của nông dân. Các hình thức huy động sức dân phải được Hội đồng nhân dân các cấp xem xét và quyết định.
Sớm xác định lại mức thuế đối với vùng cây lương thực và ổn định đến năm 1990 nhằm để nông dân an tâm đẩy mạnh sản xuất, sửa lại mức thuế đối với cây lâu năm, thuế vườn cây ăn quả...; khuyến khích thỏa đáng tăng vụ, mở thêm diện tích.
Trong công tác quản lý hợp tác xã, phải hoàn thiện cơ chế khoán sản phẩm cuối cùng đến người lao động, cải tiến công tác hạch toán và phân phối thu nhập theo hướng xóa bỏ bao cấp;
có thể dùng hình thức động viên xã viên đóng thêm cổ phần và thực hiện phân phối một phần sản phẩm và giá trị làm ra theo
Phần I: Dấu ấn Võ Văn Kiệt trong lĩnh vực kinh tế
cổ phần để có thêm vốn sản xuất; khuyến khích các hộ xã viên bỏ vốn, bỏ sức lao động để thâm canh, tăng năng suất. Ở những nơi có diện tích bình quân đầu người cao, có thể giao cho những hộ có nhiều lao động, có vốn và trình độ thâm canh nhiều diện tích hơn. Những nơi đất nhiều, người ít có thể giao đất sử dụng lâu dài theo quy hoạch và kế hoạch nhà nước, công nhận quyền thừa kế hoa lợi trong thời gian đó.
Cây công nghiệp: khuyến khích các thành phần cá thể, tư nhân, gia đình xã viên và công nhân viên chức ở nông thôn bỏ vốn, bỏ sức lao động để phát triển cây công nghiệp, nhất là trồng cà phê, hồ tiêu, dừa, chè, cao su, trồng rừng... Nhà nước tập trung đầu tư để từng bước hình thành những vùng chuyên canh có sản lượng hàng hóa lớn, ổn định, chất lượng cao phù hợp với nhu cầu thị trường thế giới.
Từ nay, Nhà nước không giao chỉ tiêu pháp lệnh cho vùng cây công nghiệp thuộc khu vực tập thể và cá thể, mà dựa trên quy hoạch và định hướng của kế hoạch nhà nước, chính quyền các cấp hướng dẫn các nhà máy chế biến trực tiếp ký hợp đồng với nông dân theo sự thỏa thuận giữa người mua và người bán về số lượng và chất lượng, về thời gian và giá cả, tạo nên sự liên kết tự nguyện, bảo đảm lợi ích của nhà máy và nông dân. Quan hệ giữa nhà máy giấy và các vùng nguyên liệu, giữa ngành than và các vùng gỗ trụ mỏ cũng thực hiện theo nguyên tắc này. Ở những nơi có điều kiện, sẽ tổ chức các liên hiệp nông - công nghiệp bao gồm cơ sở chế biến và vùng nguyên liệu hạch toán thống nhất cùng chịu trách nhiệm về lỗ, lãi.
Trong việc thực hiện hiệp định hợp tác với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác về trồng cao su, cà phê, chè, dừa, rau quả... Nhà nước giao toàn bộ vật tư, thiết bị, hàng hóa hợp tác
cho các tổng công ty, liên hiệp xí nghiệp phụ trách ngành hàng để các tổ chức này ký kết hợp đồng với tổ chức kinh doanh của địa phương. Các tổng công ty và liên hiệp xí nghiệp chủ động bố trí kế hoạch, tổ chức liên kết giữa quốc doanh, tập thể và tư nhân, cá thể, nhằm bảo đảm thực hiện có hiệu quả các điều đã cam kết với nước ngoài và làm nghĩa vụ với Nhà nước trên cơ sở hạch toán kinh tế, tự chịu trách nhiệm về lỗ, lãi và trả nợ.
Chăn nuôi: Hướng chính là phát triển chăn nuôi gia đình.
Tổ chức và khuyến khích việc giao lưu trâu bò; người sản xuất được tự do đưa sản phẩm chăn nuôi vào bán tại các thành phố, khu công nghiệp. Củng cố các trung tâm giống, các cơ sở quốc doanh bò sữa và thịt ở những nơi có điều kiện, bảo đảm kinh doanh có lãi. Khuyến khích các gia đình nuôi bò sữa ở các vành đai thực phẩm. Xây dựng các vùng chăn nuôi xuất khẩu gắn với phát triển cơ sở chế biến.
Thủy sản: Những năm qua, ngành thủy sản đã bước đầu thực hiện có kết quả cơ chế mới, trong những năm tới, chuyển toàn bộ ngành Thủy sản sang hạch toán kinh doanh; sửa đổi và bổ sung ngay các chính sách đối với ngư dân, bảo đảm cho người sản xuất có lãi. Việc xây dựng quan hệ sản xuất mới trong thủy sản phải nhằm mục đích phát triển mạnh sản xuất và đạt hiệu quả kinh tế cao, tránh gò ép, mệnh lệnh.
Thực hiện các chính sách hết sức rộng rãi, khuyến khích các thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh các nguồn lợi biển và ven biển, bằng các hình thức liên doanh, liên kết và mở rộng hợp tác với bên ngoài, đặc biệt là nuôi tôm xuất khẩu. Các tổ chức kinh doanh của ngành và địa phương phải thực hiện tốt nhiệm vụ hậu cần, dịch vụ chế biến thủy sản, tạo ra
Phần I: Dấu ấn Võ Văn Kiệt trong lĩnh vực kinh tế
ngày càng nhiều sản phẩm có chất lượng. Năm 1988, khai thác 91 vạn tấn thủy sản trở lên, ít nhất là tăng 5% so với năm 1987.
Lâm nghiệp: Nhiệm vụ hàng đầu của lâm nghiệp là bảo vệ vốn rừng hiện có, giữ cho rừng được tái sinh, đồng thời tích cực trồng mới, từng bước phủ xanh đồi trọc. Để bảo đảm nhiệm vụ này, cần có đầu tư thích đáng của Nhà nước, song quan trọng hơn là thay đổi cơ bản cơ chế quản lý rừng theo hướng xóa bao cấp, thực hiện hạch toán kinh doanh với phương châm “lấy rừng phát triển rừng”. Mặt khác, thiết lập bằng được trật tự, kỷ cương trong quản lý rừng: hoàn thành việc giao đất giao rừng chủ yếu là cho các hộ nhân dân, để bất cứ rừng nào cũng có người làm chủ với trách nhiệm và lợi ích cụ thể một cách ổn định, lâu dài, có quyền thừa kế. Phải thực hiện triệt để Pháp lệnh bảo vệ rừng, nghiêm trị theo đúng pháp luật những cá nhân, những tổ chức không có chức năng vào rừng chặt phá bừa bãi. Xử lý nghiêm, quy trách nhiệm cụ thể đối với những vụ cháy rừng.
Hết sức coi trọng và có các biện pháp chính sách cụ thể, thực hiện định canh, định cư, kết hợp với trồng rừng và bảo vệ rừng.
Đối với các vùng trồng rừng nguyên liệu tập trung như nguyên liệu giấy, gỗ trụ mỏ, phải sớm ban hành quy chế về mối quan hệ trực tiếp giữa đơn vị trồng rừng và đơn vị sử dụng nguyên liệu trên cơ sở hợp đồng kinh tế, bảo đảm đôi bên cùng có lợi.
Về khai thác và cung ứng gỗ, để tránh tình trạng khai thác không bảo đảm, giao nộp gỗ không đủ diễn ra trong nhiều năm, từ năm 1988, toàn bộ vật tư, thiết bị cho khai thác gỗ giao cho ngành lâm nghiệp chi phối, bảo đảm cung ứng gỗ theo kế hoạch và chịu trách nhiệm quyết toán đầy đủ với Nhà nước.
Diện tích trồng rừng do vốn đầu tư tập trung của Nhà nước năm 1988: khoảng 14 vạn ha, năm 1990: 16 vạn ha; giữ mức khai
thác gỗ năm 1988: 1,4 triệu m3 và năm 1990: 1,5 triệu m3 (không kể phần nhân dân được khai thác theo sự hướng dẫn của ngành lâm nghiệp).