TẠI KỲ HỌP THỨ 2, QUỐC HỘI KHÓA VIII
C- Xuất khẩu và kinh tế đối ngoại
VI- LAO ĐỘNG, DÂN SỐ
Những năm tới, phải phấn đấu đưa mức phát triển dân số xuống 1,7% như Nghị quyết Đại hội VI bằng các biện pháp: tăng cường giáo dục, tiếp tục đầu tư cho các cơ sở dịch vụ y tế xã, các
Phần I: Dấu ấn Võ Văn Kiệt trong lĩnh vực kinh tế
trung tâm hướng dẫn sinh đẻ ở huyện, bố trí đủ cán bộ y tế làm công tác kế hoạch hóa gia đình; có chính sách khen thưởng, xử phạt với những mức độ cần thiết.
Chúng ta đang đứng trước một tình hình cấp bách là số người thiếu việc làm rất lớn, đang là vấn đề gay gắt, làm cho tình hình xã hội không ổn định. Sắp tới, việc sắp xếp lại bộ máy nhà nước, số người dôi ra không ít. Do vậy, tạo việc làm cho xã hội, nhất là cho lớp thanh niên, là yêu cầu số một của kế hoạch kinh tế, xã hội. Nền kinh tế nước ta gặp nhiều khó khăn về vốn đầu tư và vật tư, nên bảo đảm đủ việc làm cho người lao động thật sự phải là một quá trình, song, cũng trong tình hình hiện nay của nước ta, khả năng tạo việc làm cũng còn lớn, nhất là trong khu vực tập thể, cá thể, tư nhân.
Đối với bộ máy hành chính và bộ phận gián tiếp, biên chế hiện nay đã quá lớn, vượt sức chịu đựng của nền kinh tế. Năm 1988, trên cơ sở cơ chế quản lý mới, tiến hành giảm ít nhất 20 - 30% số người, bảo đảm cho bộ máy gọn nhẹ, có hiệu lực và hiệu quả. Để thúc đẩy công việc này, cần sửa đổi chính sách lao động như: từng bước bỏ chế độ biên chế, áp dụng chế độ hợp đồng lao động, nhằm xóa bỏ sự phân biệt giữa người lao động trong biên chế và ngoài biên chế, chấm dứt tình trạng mọi người đua nhau vào biên chế nhà nước.
Về phân bố lại lao động và dân cư, hướng đi trong nội tỉnh là chủ yếu. Phải củng cố và ổn định các điểm dân cư đã hình thành;
việc mở thêm điểm dân cư mới phải gắn liền với việc thực hiện các chương trình hợp tác với Liên Xô và các nước khác, nhằm sử dụng các nguồn vốn (vật tư, lương thực) của các chương trình đó.
Không mở thêm điểm dân cư vào các vùng quá khó khăn, đòi hỏi
vốn đầu tư lớn, không chuẩn bị chu đáo các điều kiện ăn, ở và sản xuất.
Theo hướng đó, ba năm tới tiến hành phân bổ khoảng 70 vạn người, trong đó đi trong nội tỉnh chiếm 80%. Nơi nhận dân ngoài tỉnh chủ yếu là các nông, lâm trường 3 tỉnh Tây Nguyên; nơi đưa dân đi ngoài tỉnh chủ yếu là 3 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Riêng năm 1988, đưa 24 vạn người đến các vùng kinh tế mới, trong đó đi trong nội tỉnh 20 vạn người.
Đối với thành phố, sẽ thu hút phần lớn vào sản xuất tiểu, thủ công nghiệp, gia công hàng xuất khẩu, mở mang dịch vụ, đưa đi hợp tác lao động với nước ngoài. Điều quan trọng là thi hành đầy đủ chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tập thể, gia đình, tư nhân, cá thể, tự tạo nguồn vốn, ngành nghề để tạo thêm việc làm tại chỗ, Nhà nước hỗ trợ trong trường hợp cần thiết.
Ở nông thôn, nơi chiếm 80% lao động xã hội, cần sửa đổi các chính sách khuyến khích nông dân đầu tư thêm lao động vào các khâu thâm canh, tăng vụ, mở rộng diện tích, phát triển chăn nuôi, nghề rừng, nghề cá, chế biến nông, lâm, thủy sản, các nghề thủ công và nghề phụ khác.
Chúng ta đã tiến hành định canh, định cư trong nhiều năm nay, nhưng kết quả rất hạn chế, rừng vẫn tiếp tục bị phá, đời sống đồng bào dân tộc vẫn khó khăn. Vì vậy, gắn với việc bảo vệ rừng, trồng rừng mới, trong 3 năm tới cần đầu tư thỏa đáng và thực hiện các chính sách có hiệu quả phải định cư cho được phần lớn số đồng bào còn du canh, du cư, giúp họ có đời sống ổn định, với cách làm cho thích hợp như trồng rừng, chăn nuôi, v.v.
làm gọn từng vùng theo hướng tạo ra sản lượng hàng hóa để giải quyết lương thực.