Về xuất, nhập khẩu

Một phần của tài liệu Dấu ấn Võ Văn Kiệt thời kỳ đổi mới: Phần 1 (Trang 26 - 29)

BỘ TRƯỞNG VỚI CÁC TỈNH NAM BỘ

3. Về xuất, nhập khẩu

Chúng ta khuyến khích thật mạnh các ngành, các địa phương, các cơ sở phát triển sản xuất các mặt hàng xuất khẩu, song phải nhận rằng hiện nay tình trạng tranh mua, tranh bán hàng xuất khẩu đã trở nên cực kỳ hỗn loạn, đòi hỏi phải chấm dứt. Dứt khoát phải đi vào trật tự, kỷ cương, không thể vì lợi ích cục bộ, bản vị mà phá giá thu mua, phá giá đồng tiền của ta một cách tệ hại nhất như hiện nay (nhất là đối với một số mặt hàng như tôm, tiêu, cà phê...). Nghị quyết của Hội đồng Bộ trưởng đã xác định: địa phương nào sản xuất mặt hàng gì thì có trách nhiệm và quyền quản lý việc tổ chức thu mua và xuất khẩu loại hàng đó; các nơi khác đến, phải có hợp đồng liên kết kinh tế và chịu sự quản lý của địa phương sở tại. Nếu muốn xuất khẩu một mặt hàng không do địa phương mình sản xuất thì phải chứng minh nguồn gốc của hàng đó bằng các văn bản liên kết kinh tế với nơi sản xuất.

Điều có ý nghĩa cực kỳ quan trọng là các địa phương phải bảo đảm cho được các chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh được giao - đó là

Phần I: Dấu ấn Võ Văn Kiệt trong lĩnh vực kinh tế

nguồn hàng để Trung ương bảo đảm cam kết với các nước anh em, để có thể nhập khẩu các vật tư, hàng hóa cho nhu cầu chung của cả nước. Bộ Ngoại thương chỉ được cấp giấy phép xuất khẩu cho các tỉnh sản xuất hàng xuất khẩu trên cơ sở cam kết bảo đảm hoàn thành nghĩa vụ giao sản phẩm cho Trung ương đủ theo chỉ tiêu kế hoạch.

Về các mặt hàng xuất khẩu, nhiều địa phương yêu cầu được xuất gạo để có tiền nhập phân bón, thuốc trừ sâu... Tôi nghĩ rằng đã phải xuất đến gạo là sự bất đắc dĩ, là cùng cực, không còn cách nào khác, bởi vì gạo là thứ sản phẩm quý, đất nước ta chưa phải đã dồi dào, mà hiện nay giá gạo trên thị trường quốc tế đang xuống. Nếu các đồng chí có thừa, thì các đồng chí hãy bán thêm cho Trung ương, để Trung ương trang trải cho nhu cầu chung, các đồng chí cần nhập thứ gì thì Trung ương cố gắng đáp ứng.

Đối với ngô cũng vậy, nên dành một phần cho chăn nuôi, cho xuất khẩu một phần. Các địa phương có dư ngô (như Đồng Nai) có thể liên kết với Thành phố Hồ Chí Minh, đưa ngô cho Thành phố làm thức ăn gia súc và Thành phố đưa lại địa phương những hàng cần thiết. Đối với sắn lát, có thể khuyến khích xuất khẩu, ngoài phần cần thiết dành cho chăn nuôi.

Như vậy, mặt hàng cần khuyến khích mạnh xuất khẩu chính là các loại sản phẩm cây công nghiệp, các loại thủy, hải sản. Nếu cần thiết, thậm chí có thể bớt nghĩa vụ về sản phẩm cây công nghiệp đối với Trung ương để xuất khẩu, nhập phân bón, thuốc trừ sâu về phục vụ sản xuất lương thực.

Về nhập khẩu, ngoài vật tư cho sản xuất, hướng chung là nhập những loại hàng tiêu dùng thiết yếu đáp ứng nhu cầu của đông đảo người sản xuất. Nghị quyết 31 của Hội đồng Bộ trưởng đã nâng lên mức tối đa là 30% trong kim ngạch nhập khẩu của

các địa phương. Vận dụng tinh thần Nghị quyết 9 của Trung ương, Nghị quyết 31 của Bộ Chính trị, Nghị quyết 287 và Nghị quyết này của Hội đồng Bộ trưởng, có thể phân ra mấy loại hàng nhập như sau:

Một là, ngừng nhập khẩu các hàng tiêu dùng cao cấp như video, cátxét, tivi màu, xe honđa cúp và nói rõ với những người sản xuất thật sự có yêu cầu tiêu dùng hãy ráng chịu khó một vài năm, khi nào kinh tế ta khá lên thì hãy xài cũng không sao.

Hai là, có một số mặt hàng xét cần thiết phải nhập khẩu nhưng phải rất hạn chế như bột ngọt (năm 1985 các địa phương nhập tới 12.000 tấn), dùng ngoại tệ để nhập thuốc trừ sâu.

Năm nay, để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, có thể nhập một số rất hạn chế, nhưng phải tổ chức việc cung ứng đến người sản xuất, không thể bán đi bán lại lấy chênh lệch giá hoặc chạy vào các dịch vụ ăn uống lãng phí, kể cả ăn uống quốc doanh.

Ba là, đối với những mặt hàng trong nước đã sản xuất được, hãy còn dư công suất, thì các tỉnh nên liên kết, liên doanh với Thành phố Hồ Chí Minh, với các bộ, nhập khẩu các linh kiện, phụ tùng để sản xuất (như quạt máy, bình thủy, rađio,...). Cũng với tinh thần ấy, có thể nhập một số phụ tùng xe để bán cho nhân dân, nhằm duy trì và sử dụng các loại xe đã nhập từ các năm trước.

Bốn là, một số có thể nhập của thị trường xã hội chủ nghĩa thì nên nhập ở thị trường này, không nên nhập từ thị trường tư bản, như xe con du lịch, xe vận tải...

Ngay sau hội nghị này, Bộ Ngoại thương sẽ xem xét danh mục hàng xuất, nhập của từng địa phương và cho phép xuất nhập theo tinh thần nói trên để các đồng chí kịp thời triển khai cho kịp thời vụ. Tỷ lệ 30% là tính chung cả năm, còn riêng từng chuyến hàng, tỷ lệ này Bộ Ngoại thương sẽ cùng xem xét kỹ với

Phần I: Dấu ấn Võ Văn Kiệt trong lĩnh vực kinh tế

từng địa phương. Từ nay, Bộ Ngoại thương cần quản lý chặt chẽ việc cấp giấy phép xuất nhập khẩu và khẩn trương giải quyết đề nghị của các địa phương. Hoan nghênh anh Tu (Bộ Ngoại thương) đã hứa trước hội nghị là sẽ trả lời trong 3 ngày.

Một phần của tài liệu Dấu ấn Võ Văn Kiệt thời kỳ đổi mới: Phần 1 (Trang 26 - 29)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(668 trang)