(Lược ghi)
Ngày 06, 07 tháng 02 năm 1988
Thưa các đồng chí,
Sau khi nghe đồng chí Võ Hòa, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Khánh1 trình bày tóm tắt bản sơ đồ Phú Khánh và các đồng chí đại diện cho các bộ, ngành trung ương phát biểu ý kiến, tôi xin góp thêm một số vấn đề sau:
Phần thứ nhất
SƠ ĐỒ CẦN ĐEM NHỮNG QUAN ĐIỂM MỚI, CƠ CHẾ MỚI VÀO ĐỂ NHÌN NHẬN ĐÁNH GIÁ ĐÚNG
TIỀM NĂNG CỦA PHÚ KHÁNH
Trong khi xây dựng sơ đồ, các đồng chí đã nghiên cứu đánh giá tiềm năng mọi mặt của tỉnh, nhưng theo tôi là chưa đủ, chưa sát thực, cụ thể. Chúng ta cần phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu đánh giá tính được giá trị tiềm năng thực tế của nó như thế nào. Nhất là nhìn nhận, đánh giá những tiềm năng trên tinh
1. Tỉnh Phú Khánh: nay là tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hòa (B.T).
Phần I: Dấu ấn Võ Văn Kiệt trong lĩnh vực kinh tế
thần đổi mới, năng động của các nghị quyết, chính sách mới được ban hành.
Tôi nhất trí với các đồng chí một nhận định khái quát tiềm năng của Phú Khánh là một trong những tỉnh đặc biệt lý tưởng đối với chúng ta. Nó thu gọn lại tiềm năng đa dạng của cả nước.
Những tiềm năng này là vốn sẵn có ban đầu để chúng ta khai thác chúng phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, trước hết là phục vụ nhân dân Phú Khánh và sau đó là làm nghĩa vụ với cả nước.
Trước hết là nông nghiệp: Tiềm năng về nông nghiệp của Phú Khánh tuy chưa lớn bằng một số tỉnh trong cả nước, nhưng tương đối đa dạng, có cây lương thực, thực phẩm đến các cây công nghiệp dài ngày, ngắn ngày có giá trị. Nếu chúng ta biết đi lên từ nông nghiệp một cách đồng bộ, gắn với chế biến thì nền nông nghiệp Phú Khánh sẽ phát triển toàn diện, đáp ứng một cách phong phú những nhu cầu của nhân dân trong tỉnh và chắc chắn nó sẽ góp phần đối với khu vực và cả nước. Vấn đề lương thực, thực phẩm ở đây gần như không có vấn đề gì, chỉ đòi hỏi chúng ta bố trí đúng loại cây, con, đem lại hiệu quả cao nhất, thỏa mãn nhu cầu đa dạng trong tỉnh và ngày càng có nhiều nông sản hàng hóa xuất ra khỏi tỉnh. Tiềm năng này không phải bất cứ chỗ nào cũng giống như Phú Khánh, kể cả những tỉnh có nhiều lúa ở Bắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Về lúa họ hơn Phú Khánh rất xa, nhưng có nhiều cái khác không thể nào được như Phú Khánh. Cũng chưa chắc những vùng trù phú như đồng bằng sông Cửu Long đi lên công nghiệp hóa nhanh như Phú Khánh.
Vì vậy, muốn khai thác tiềm năng nông nghiệp của Phú Khánh, chúng ta phải có cách nhìn nhận đúng, đừng bị một cái gì đó bó buộc mình phải mở trôi trước tiên là suy nghĩ của chính mình.
Tôi chưa có dịp đi các huyện miền núi của các đồng chí, không hiểu đồng bào họ sống ra sao, rất có thể có lúc họ không có cả mắm để mà ăn? Vì thế các đồng chí cần đánh giá đúng tiềm năng nông nghiệp của mình để sản xuất nhiều nông sản thực phẩm, đáp ứng nhu cầu của tỉnh và xuất ra khỏi tỉnh ngày càng nhiều.
Thứ hai là hải sản: Bờ biển Phú Khánh dài 700 km, nói về mặt quản lý hành chính thì khó khăn, phức tạp, nhưng nếu xét về mặt tài nguyên thì nó là một tỉnh có ưu thế rất lớn. Ngoài ra, các đồng chí còn có 80 hòn đảo lớn nhỏ mà giá trị của nó chúng ta chưa đánh giá hết được, chưa kể đến vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, chỉ nói nội vùng ven biển, vùng đầm phá của các đồng chí với diện tích 5 vạn ha. Đây là vùng mà bất cứ người dân nào cũng có thể sờ tay tới, nhận biết tiềm năng của nó. Đây là nguồn xuất khẩu lớn. Trong lãnh đạo phải dứt khoát xem đây là thế rất mạnh của Phú Khánh, vùng ven biển là vùng tiếp cận với vùng dân cư, lại thuận lợi với giao lưu trong nước và bên ngoài, ven biển có gì, 80 đảo có gì, chúng ta chưa có những cơ sở khoa học để thấy đó là những tài nguyên thực sự đang chờ chúng ta.
Tôi chưa nói đến việc trong quá trình quy hoạch có thể ở Phú Khánh có cảng biển lớn đối với cả nước. Đặc biệt Phú Khánh có quân cảng Cam Ranh là cảng độc nhất vô nhị đối với vùng Đông Nam Á. Bên cạnh đó, Phú Khánh lại có Nha Trang với những điều kiện khí hậu, điều kiện tự nhiên thiên nhiên đặc biệt mà khách nước ngoài cũng phải ca ngợi. Tất cả các tiềm năng này chưa được điều tra, khảo sát kỹ. Trong tầm hiểu biết của người dân Phú Khánh, biển là nguồn lợi, cơ chế đã mở, Phú Khánh có thể tự do tung hoành đi lên.
Thứ ba là lâm sản: Trên góc độ cả nước, Phú Khánh là tỉnh có nguồn lâm sản vào loại lớn, tài nguyên này chúng ta cũng mới
Phần I: Dấu ấn Võ Văn Kiệt trong lĩnh vực kinh tế
đánh giá một cách sơ lược, thiếu căn cứ vững chắc theo tài liệu của các đồng chí thì trữ lượng gỗ của Phú Khánh hiện còn 24 triệu m3, trữ lượng gỗ khai thác 10 triệu m3. Tuy nhiên, chúng ta chưa phân tích được trong 10 triệu m3 này có loại cây gì, sản phẩm từ đó có giá trị xuất khẩu như thế nào? Phú Khánh là tỉnh có bờ biển dài, nhưng chiều ngang hẹp, chỗ rộng nhất khoảng 80 km. Còn chỗ hẹp là 30 km. Núi của Phú Khánh cao trung bình khoảng 700 m, như vậy 10 triệu m3 này nằm trong tầm tay của chúng ta. Điều kiện kỹ thuật cho phép chúng ta có thể khai thác được tài nguyên này phục vụ cho tỉnh, cho cả nước, cây gỗ của Phú Khánh sau khi chặt xuống chỉ cần kéo ra 40 - 50 km là đến bờ biển mà đến bờ biển có nghĩa là đến lưu thông cả bên trong và bên ngoài. Không lẽ chúng ta không có cách nào để đem những cây vàng này xuống biển, gỗ là tài nguyên trên mặt đất có thể khai thác ngay được. So với những tài nguyên dưới lòng đất, gỗ là loại tài nguyên dễ đánh giá, dễ khai thác, ở đây chỉ mới nói gỗ, xung quanh nó, trong rừng còn những loại lâm sản khác như trầm hương, kỳ nam... Những lâm sản này có giá trị xuất khẩu đáng kể, rất có thể những tài nguyên dưới đất của Phú Khánh nhiều hơn tài nguyên gỗ nhưng việc tìm kiếm nó, đầu tư khai thác nó rất tốn kém và phải có thời gian. Chúng ta tạm chấp nhận tài nguyên rừng của Phú Khánh có 10 triệu m3 đưa vào khai thác được. Nếu các đồng chí đề ra chỉ tiêu khai thác hằng năm 10 vạn m3 thì chu kỳ của nó là 100 năm, còn nếu 20 vạn m3 thì chu kỳ của nó là 30 năm, không lẽ chúng ta chỉ dừng ở mức này. Có thể các đồng chí hỏi lấy vốn ở đâu để khai thác nhiều hơn, vốn nằm ngay trong 10 vạn m3 gỗ của các đồng chí. Các đồng chí xuất khẩu phải trả lời cho tỉnh, mỗi cây gỗ nếu không xuất không qua chế biến được bao nhiêu tiền, nếu qua chế biến (thông qua những lao động hiện có) thì giá trị của nó tăng
lên bao nhiêu lần, có phải 5 - 7 lần hay không? Như vậy chúng ta phải suy nghĩ có nên khai thác mỗi năm 40 vạn, nửa triệu mét khối để từ đó đầu tư lại cho ngành lâm nghiệp, kể cả khai thác cũng như trồng lại rừng trên diện tích 50 vạn ha đất trống đồi trọc của các đồng chí.
Thứ tư là vật liệu xây dựng: Đây cũng là thế mạnh của Phú Khánh, nhưng các đồng chí đề cập chưa đúng mức. Chúng ta phải khẳng định rằng đất nước này tiếp tục đi lên, Tây Nguyên, đồng bằng Cửu Long ở gần ngay các đồng chí cũng sẽ đi lên, nhu cầu về vật liệu xây dựng ngày càng lớn. Phú Khánh có sức sản xuất ra bao nhiêu cũng chưa đáp ứng đủ. Ở Phú Khánh các đồng chí có nguyên liệu để sản xuất ximăng, các đồng chí có đất để sản xuất gạch, ngói, đặc biệt các đồng chí có nguồn đá chẻ phong phú. Các đồng chí chỉ thiếu sắt thép. Các đồng chí có thể dùng những cái đồng chí có để đối lưu những cái không có. Đây cũng là tài nguyên nắm chắc. Nhưng cũng như các tài nguyên nói trên, chúng ta phải đi sâu, đánh giá nó để mà yên tâm đầu tư khai thác. Hàng chục triệu dân ở Nam Bộ với hàng ngàn những công trình cần xây dựng ở phía Nam Tây Nguyên... Trong tương lai cũng đi lên rất mạnh, đây chính là những đối tượng tiêu thụ sản phẩm vật liệu xây dựng của các đồng chí. Đây chính là chỗ làm ăn, chỗ tích lũy cho tỉnh.
Thứ năm là điều kiện thiên nhiên: Trời đất cho Phú Khánh điều kiện thiên nhiên đặc biệt là lý tưởng. Ít có vùng biển nào ở trong nước có khí hậu lý tưởng như ở Phú Khánh Nha Trang không chỉ đối với trong nước mà đối với cả nước ngoài. Ở phía Nam có Vũng Tàu, nhưng quy mô sức hấp dẫn không ăn thua gì so với Nha Trang. Khí hậu Vũng Tàu cũng khác Nha Trang. Tất nhiên nếu chúng ta không biết làm gì cho nó ngày một tốt hơn
Phần I: Dấu ấn Võ Văn Kiệt trong lĩnh vực kinh tế
mà chỉ khai thác nó một cách mòn mỏi thì có thể những năm tới Nha Trang không bằng những nơi khác. Tôi được đi nhiều tỉnh, thành phố trong nước cũng như một số nước trên thế giới, thì ít có thành phố nào có đủ tất cả những điều kiện như Nha Trang. Từ đó tôi xin nói dứt khoát với các đồng chí, Nha Trang phải là một thành phố du lịch đặc biệt của cả nước, phải xây dựng Nha Trang thành một thủ đô về du lịch. Vì vậy, tôi lưu ý các đồng chí về quy hoạch thành phố Nha Trang mà có dịp anh Huỳnh Tấn Phát đã xem xét góp ý. Tất nhiên, các đồng chí lập quy hoạch thành phố Nha Trang trước Đại hội IV hoặc sau Đại hội V, nhưng Đại hội V so với Đại hội VI có một bước khác xa. Trên tinh thần đổi mới của Đại hội VI, các đồng chí nên xem lại toàn bộ quy hoạch thành phố Nha Trang. Theo tôi tầm cỡ thành phố Nha Trang mà các đồng chí đã quy hoạch không ăn thua gì. Không thấm vào đâu cả.
Ngoài khí hậu thành phố Nha Trang còn nằm ở vị trí trung tâm của cả nước, mà liên quan đến cả khu vực, liên quan đến cả 3 biên giới, 2 khu vực rộng lớn trù phú của 2 nước anh em láng giềng (Hạ Lào và Đông bắc Campuchia). Đây là những vùng đất còn nguyên dạng, còn nguyên những khối tài nguyên mà con người chưa đụng tới, khi khai thác nó, nhất định phải ra các cửa ngõ ở vùng từ Nghĩa Bình đến Phú Khánh. Vì vậy, khi nghiên cứu quy hoạch Nha Trang, các đồng chí phải suy nghĩ đến vấn đề này.
Ngoài Nha Trang chúng ta còn có Hạ Long, Huế, Đà Lạt. Mỗi nơi một vẻ riêng của nó, nhưng xét toàn diện thì không nơi nào bằng Nha Trang, chúng ta phải làm cho Nha Trang đẹp hơn gấp mấy lần bây giờ. Một đô thị hiện đại trong phát triển các mặt của một đất nước gần một trăm triệu dân, nếu chưa có một quy hoạch hoàn chỉnh đúng tầm cỡ của nó, thì xin các đồng chí lưu ý cho khi
quyết định xây dựng các công trình kiên cố tại Nha Trang, các đồng chí phải thận trọng cân nhắc kỹ.
Thứ sáu, thế mạnh nữa của các đồng chí là giao thông vận tải. Tuy còn yếu kém, nhưng so với nhiều tỉnh, giao thông vận tải Phú Khánh có những ưu thế rõ rệt. Phú Khánh có đủ loại giao thông: đường sắt, đường bộ, đường biển, đường hàng không.
Trên cơ sở hiện có bây giờ chúng ta biết sử dụng nó và chúng ta cải tạo nó như thế nào để đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của chúng ta? cái này chúng ta tiếp tục nghiên cứu, cân nhắc.
Khu vực này chúng tôi đã họp với các đồng chí giao thông, cần phải thăm dò, phải cho điều tra, khảo sát một cách khẩn trương để chuẩn bị ngay từ bây giờ một cảng biển lớn của quốc gia với quy mô lớn mới đáp ứng nổi cho nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước chúng ta. Hiện tại chúng ta có 2 cảng lớn là Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng sức tải của nó không ăn thua gì so với nhu cầu hiện nay của đất nước, trong tương lai thì nó quá nhỏ bé. Nếu ở Phú Khánh có cảng biển quốc gia thì hết sức thuận lợi cho các bạn Lào và Campuchia. Trong lúc chưa hình thành cảng lớn tại đây, các đồng chí cũng nên tính toán kỹ để mở rộng cảng Nha Trang hiện có, đáp ứng được nhu cầu của Phú Khánh và các tỉnh Tây Nguyên trong những năm trước mắt.
Thứ bảy, là tiềm năng và khả năng sẵn của các đồng chí là lao động. Theo tôi, lao động của Phú Khánh cũng là một thế mạnh.
Chúng ta cần có phương án để khai thác tốt 15 vạn lao động chưa có việc làm. Những tiềm năng tôi vừa nêu trên, cộng với lực lượng lao động hiện có là một sự cân đối giữa yêu cầu khai thác tiềm năng với khả năng lao động mà các đồng chí có, các đồng chí
Phần I: Dấu ấn Võ Văn Kiệt trong lĩnh vực kinh tế
không cần tìm nguồn lao động ở đâu khác và không cần xuất lao động đi ra nước ngoài. Nếu 15 vạn lao động này ta đưa cho rừng, ta đưa cho khai thác vật liệu xây dựng ta đưa đúng mức cho 80 hòn đảo và 5 vạn ha đầm vịnh, tôi e rằng có khi lại chưa đủ. Nếu chúng ta gắn chặt lao động với tài nguyên cần khai thác, chúng ta sẽ làm giàu và đưa mức sống của nhân dân trong tỉnh lên, bằng tất cả những chính sách mới của Đảng và Nhà nước, với nguồn lao động dồi dào, các đồng chí cần khai thác ngay lập tức những tài nguyên Phú Khánh hiện có. Xu hướng hiện nay của thế giới là tận dụng ưu thế về lao động rẻ khi kỹ thuật đã bằng nhau thì ai có thế mạnh về lao động, người đó chiếm ưu thế về mặt giá cả trên thị trường hàng hóa. Tất cả những thế mạnh tôi vừa nêu các đồng chí cũng đã đề cập trong sơ đồ. Tôi xin nhấn mạnh, nhất thiết chúng ta phải triển khai, đánh giá lại một cách nghiêm túc, có căn cứ khoa học, từ đó đặt kế hoạch khai thác nó ngay trong thời gian kế hoạch 3 năm còn lại và chuẩn bị cho kế hoạch 5 năm 1991 - 1995 và đến năm 2000.
Tóm lại, về phần tiềm năng tôi xin nhấn mạnh: Phú Khánh cần lưu ý có 1 cảng biển, nếu không phải là lớn nhất nước thì cũng nên lưu ý nó là loại cảng lớn, thành phố Nha Trang phải là thành phố du lịch lớn nhất của cả nước. Các đồng chí có cảng lớn, tức là có thành phố cảng lớn và như vậy thành phố Nha Trang sẽ nằm giữa hai cái cảng, đầu trong là cảng Cam Ranh đặc biệt nhất Đông Nam Á, đầu ngoài là cảng biển lớn của cả nước. Phú Khánh là tỉnh duy nhất trong tất cả các tỉnh của cả nước có được những điều kiện vừa nêu trên. Nếu Trung ương cho phép, tôi chọn có 2 tỉnh “mà ăn liền” là Phú Khánh và Kiên Giang ở đồng bằng sông Cửu Long.
Phần thứ hai
CHƯƠNG TRÌNH XUẤT KHẨU -
MỘT TRONG BA CHƯƠNG TRÌNH KINH TẾ LỚN CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC
Theo sơ đồ, mục tiêu của Phú Khánh đặt ra đến năm 1990 là 40 triệu rúp đôla, năm 2000 là 80 triệu. Như vậy bình quân 1 người dân Phú Khánh đến năm 2000 chỉ mới có 48 rúp đôla như thế đủ đắp đổi không làm được cái gì đáng kể cả với một tỉnh đến năm 2000 là 1 triệu 7 dân không thể nào chúng ta sống được bằng cái mức như thế này. Tất nhiên lúc đề ra mục tiêu xuất khẩu các đồng chí có tính đến thời gian xuất khẩu vừa qua, nhưng chúng ta cũng nên hiểu rằng chặng đường vừa qua có nhiều nguyên nhân làm chậm bước đi của chúng ta. Ví dụ như tập trung quan liêu, bao cấp. Những nguyên nhân này đang từng bước được tháo gỡ bằng những cơ chế, chính sách mới. Chúng ta cần suy nghĩ đặt vấn đề theo tinh thần đổi mới của Đại hội VI.
Việc đổi mới của chúng ta rất phù hợp với trào lưu chung của thế giới, chúng ta đang thiếu vốn, luật đầu tư đã mở ra một nguồn vốn từ bên ngoài kể cả các nước xã hội chủ nghĩa và các nước khác. Xuất phát từ những suy nghĩ đó chúng ta xem Phú Khánh có thể xuất khẩu cái gì?
Thứ nhất là nguồn hải sản: Cần phải tận lực khai thác nó, phải triển khai thành chương trình mục tiêu quan trọng của tỉnh từ đánh bắt, chế biến đến nuôi trồng phải bảo vệ môi trường, môi sinh, tất cả những cái này với 5 vạn ha đầm vịnh, khai thác nó bằng năm thành phần kinh tế, đưa những chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước để ban hành vào đây, chắc chắn cái vùng khá chắc ăn này sẽ làm ra nhiều sản phẩm xuất khẩu. Phải sử