Một số giải pháp khắc phục rào cản để mở rộng ứng dụng thực hành CSA

Một phần của tài liệu Nông lâm kết hợp giải pháp cho nông nghiệp thông minh với khí hậu vùng miền núi phía Bắc (Tài liệu tập huấn dùng để tập huấn TOT cho cán bộ nông, lâm nghiệp miền núi phía Bắc) (Trang 35 - 40)

tiếp cận có sự tham gia

Vai trò của liên kết giữa các bên, gồm nhà nông, nhà quản lý, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, người tiêu dùng và một số tác nhân hỗ trợ khác (như các ngân hàng, các kênh truyền thông) trong phát triển sản xuất nông nghiệp đã được ghi nhận. Tuy nhiên, hiện nay mối liên kết này chưa thực sự phát triển. Việc tiếp tục đầu tư nghiên cứu, phát triển các mối liên kết này sẽ giúp khắc phục các rào cản nói trên.

(1) Phát triển liên kết nông dân - nông dân sẽ giúp khắc phục những khó khăn về quy mô nhỏ, lẻ của nông hộ và ô thửa26. Những hoạt động tập thể của nhiều nông hộ trong các tổ, nhóm hay hợp tác xã, như cùng lập và thực hiện các kế hoạch mua vật tư, tiếp cận dịch vụ khuyến nông, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm sẽ giúp các nông hộ nhỏ lẻ có thể sản xuất được sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường và dễ dàng bán được sản phẩm.Ngoài ra, khi sinh hoạt trong các tổ, nhóm hay hợp tác xã, nông dân cũng dễ dàng thảo luận và đi đến đồng thuận hơn trong việc sử dụng và quản lý tài sản chung của cộng đồng, cũng như trong việc tiếp nhận và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong việc mở rộng ứng dụng những thực hành CSA mà chỉ khi được ứng dụng trên diện rộng mới mang lại hiệu quả (như ICM, IPM, SRI, NLKH v.v.). Chi tiết hơn về liên kết nông dân - nông dân và phương pháp phát triển mối liên kết này được thảo luận ở phần V của tài liệu này.

(2) Phát triển liên kết chuỗi giá trị (liên kết giữa các bên liên quan) là vô cùng cần thiết để phát triển sản xuất và tiêu thụ bất cứ mặt hàng nông sản nào. Vai trò của liên kết chuỗi giá trị và phương pháp phát triển mối liên kết này cũng được thảo luận ở phần V của tài liệu này.

(3) Xây dựng và thực thi cơ chế/chính sách hỗ trợ nông dân ứng dụng kỹ thuật sản xuất nông nghiệp bền vững, bao gồm cả những thực hành CSA. Các hỗ trợ có thể bao gồm ưu đãi vay vốn, ưu đãi tiếp cận dịch vụ khuyến nông, thúc đẩy sản xuất và cung ứng những công cụ, thiết bị sản xuất cũng như phân bón cần thiết, cải thiện cơ sở hạ tầng và thúc đẩy phát triển liên kết chuỗi giá trị.

(4) Sử dụng phương pháp tiếp cận có sự tham gia trong việc xây dựng các kế hoạch, chương trình hay đề tài, dự án nghiên cứu và phát triển nông nghiệp, nông thôn cũng là một giải pháp quan trọng để khắc phục các rào cản, thúc đẩy mở rộng ứng dụng các kỹ thuật, thực hành CSA. Sự tham gia và đóng góp của các bên liên quan, nhất là của nông dân vào quá trình xây dựng kế hoạch sẽ giúp có được những kế hoạch phù hợp với nhu cầu thực tế của địa phương. Đóng góp của nông dân vào việc phát triển và thực hiện các ý tưởng nghiên cứu, sự

26 Phạm Thị Sến, 2017. Moc Chau vegetable farmers’ use of data-aided decision-making, traceability, quality assurance, and access to higher value markets. Báo cáo trình bày tại Hội nghị thường niên của CrowFord Fund, tại Úc, năm 2017

28 kết hợp giữa kiến thức bản địa, kinh nghiệm của nông dân với tri thức khoa học mới sẽ giúp các nhà khoa học xây dựng được các kỹ thuật phù hợp để nông dân ứng dụng vào thực tiễn sản xuất ở từng hoàn cảnh cụ thể. Đặc biệt, sự tham gia của các bên vào quá trình xác định nhu cầu, hoạch định chính sách sẽ giúp ra được những chính sách phù hợp với yêu cầu thực tiễn, và tạo điều kiện cho việc thực thi những chính sách này một cách hiệu quả. Chi tiết hơn về phương pháp có sự tham gia được thảo luận ở phần IV của tài liệu này.

Thảo luận giữa các bên liên quan để tìm giải pháp khắc phục rào cản ứng dụng TBKT (ảnh: Yên Bái, 10/2014; Đỗ Trọng Hiếu)

II.3.2. Tăng cường vai trò phát huy tinh thần đoàn kết, truyền thống văn hóa của các cộng đồng nông dân

Từ ngàn xưa, tính cộng đồng được thể hiện rõ ở tất cả các làng quê Việt Nam. Trong việc nghiên cứu, chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật nói chung và các thực hành CSA nói riêng, nếu các giá trị truyền thống văn hóa, tập tục của địa phương được quan tâm đúng mức sẽ phát huy được tinh thần đoàn kết trong cộng đồng, tăng khả năng đồng thuận về quản lý tài sản chung cũng như khả năng tiếp nhận và mở rộng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật. Như đã thảo luận ở trên, nhiều tiến bộ kỹ thuật chỉ phát huy hiệu quả khi được ứng dụng trên diện rộng. Mặt khác, nhiều thực hành CSA chỉ có thể được ứng dụng khi có sự thống nhất sử dụng, quản lý các tài sản, tài nguyên chung của cộng đồng, như rừng cộng đồng, nguồn nước, hệ thống giao thông, thủy lợi, hoặc cần sự đồng thuận trong việc cải thiện hạ tầng cơ sở, hạ tầng tiếp nhận thông tin.

29 Vì vậy, việc lồng ghép và khai thác những ưu điểm văn hóa cộng đồng vào quá trình xây dựng kế hoạch, chính sách và thực hiện những hoạt động nghiên cứu, chuyển giao kỹ thuật sẽ tăng khả năng nông dân hiểu về các kỹ thuật, thắtt chặt thêm mối liên kết giữa các thành viên trong cộng đồng, qua đó tăng khả năng tiếp nhận và ứng dụng kỹ thuật của mỗi thành viên cũng như của cả cộng đồng.

II.3.3. Thực hiện các chiến lược truyền thông và chuyển giao thích hợp

Theo một số kết quả nghiên cứu27, nông dân MNPB hầu như chưa chủ động tìm kiếm thông tin về kỹ thuật sản xuất mà chủ yếu tiếp nhận thông tin một cách thụ động. Nguồn thông tin chủ yếu là cán bộ khuyến nông địa phương, tiếp theo là các kênh phát thanh, truyền hình, đặc biệt là hệ thống loa phát thanh thôn, bản. Tuy vậy, hệ thống khuyến nông ở đây chưa có đủ nguồn lực để phổ biến thông tin và chuyển giao kỹ thuật cho nông dân một cách hiệu quả, trong khi hệ thống phát thanh thôn, bản ở hầu hết các địa phương cũng chưa phát triển. Mặt khác, hiện nay, công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật thường bao gồm tập huấn, tổ chức các hội nghị đầu bờ và các buổi tham quan học tập, chia sẻ kinh nghiệm. Do tiềm lực có hạn, những hoạt động này không được thường xuyên, và vì vậy không đủ để cho đông đảo nông dân hiểu và ứng dụng được tiến bộ kỹ thuật. Bên cạnh đó, phương pháp tập huấn và tổ chức các buổi thăm quan, chia sẻ kinh nghiệm cũng chưa thật phù hợp với trình độ và khả năng tiếp thu của nông dân MNPB. Việc biên soạn và cấp phát các tài liệu hay video hướng dẫn kỹ thuật cũng thường bằng tiếng quốc ngữ, khó hiểu đối với nhiều nhóm đối tượng sử dụng là người dân tộc thiểu số. Vì vậy, muốn mở rộng ứng dụng thành công những thực hành CSA ở MNPB cần thiết phải thực hiện những chiến lược truyền thông và chuyển giao thích hợp, hiệu quả. Cụ thể:

(1) Cải thiện và tăng cường sử dụng các kênh truyền thông như hệ thống phát thanh thôn, bản và truyền hình địa phương. Mặt khác, hiện nay ở MNPB việc kết nối internet và các mạng điện thoại khá phát triển. Khai thác tiềm năng các mạng liên lạc này có thể là một giải pháp hữu hiệu để phổ biến thông tin tới người dân, bao gồm cả các thông tin về thị trường và tiến bộ khoa học, kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp.

(2) Tăng cường năng lực cho hệ thống khuyến nông địa phương thực hiện các phương pháp và chiến lược chuyển giao kỹ thuật phù hợp với từng cộng đồng nông dân. Các phương pháp và chiến lược này cần khắc phục được những rào cản về văn hóa và trình độ hạn chế cũng như một số thói quen, tập quán của nông dân.

(3) Tăng cường công tác tiếp thị và truyền thông về nông sản từ các hệ thống CSA: Việc này sẽ giúp người tiêu dùng và xã hội hiểu rõ về nguồn gốc, xuất xứ và tính an toàn thực

27Đỗ Trọng Hiếu, Lê Khải Hoàn, Lê Viết San, Lưu Ngọc Quyến, Phạm Thị Sến, 2015. Hướng tới các làng ứng phó thông minh với biến đổi khí hậu (CSV) ở miền núi phía Bắc. Trong Kỷ yếu nghiên cứu khoa học của Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, 2010 - 20015.

30 phẩm của những sản phầm này, cũng như hiểu về tác động của các thực hành CSA trong bảo vệ môi trường và ứng phó BĐKH. Điều này có ý nghĩa quan trọng, giúp phát triển liên kết chuỗi giá trị để nông dân dễ tiêu thụ sản phẩm, qua đó giúp họ yên tâm mở rộng ứng dụng thực hành CSA. Cụ thể hơn về tiếp thị và phát triển liên kết chuỗi giá trị được thảo luận ở phần VI của tài liệu này.

Đọc thêm:

1. Tài liệu tập huấn “Nông nghiệp ứng phó biến đổi khí hậu” của Phạm Thị Sến và cs., xuất bản năm 2015, để hiểu thêm về CSA. Có thể tải tài liêu từ link http://www.nomafsi.com.vn/vn/nong-nghiep-thong-minh-ung-pho-voi-b.html

2. Sách tham khảo “CSA - Thực hành nông nghiệp thông minh với khí hậu ở Việt Nam”

của Phạm Thi Sến và cs., xuất bản năm 2017, để hiểu chi tiết hơn về các thực hành CSA.

Có thể tải tài liệu từ http://www.nomafsi.com.vn/vn/csa-thuc-hanh-nong-nghiep-thong- minh-voi-khi-hau-o-viet.html

GHI NHỚ

1. Nông nghiệp thông minh với khí hậu, hay còn gọi nông nghiệp ứng phó BĐKH (CSA) là một cách tiếp cận mới, thân thiện với môi trường, hướng đến cùng một lúc cả ba mục tiêu, gồm thích ứng BĐKH, giảm thiểu BĐKH và đảm bảo an ninh lương thực một cách bền vững.

2. Tuân thủ các quy định về sử dụng, bảo vệ đất dốc và thiết kế nương đồi của Chính phủ chính là một giải pháp hữu hiệu để khắc phục những thách thức hiện đang đối diện ngành nông nghiệp MNPB, cũng là một giải pháp của CSA.

3. Nhiều thực hành CSA có tiềm năng phù hợp cho MNPB để phát triển sản xuất bền vững và ứng phó BĐKH. Tuy nhiên, để mở rộng ứng dụng các thực hành này trong sản xuất cần có những cách tiếp cận và giải pháp phù hợp, với sự tham gia của tất cả các bên liên quan, để khắc phục những rào cản và khó khăn.

31

PHẦN III Nông lâm kết hợp - một giải pháp của

CSA ở miền núi phía Bắc

Một kiểu hệ thống NLKH cảnh quan (ảnh: Lai Châu, 9/2019; Phạm Thị Sến)

Mục tiêu của Phần III

Phần này thảo luận về nông lâm kết hợp (NLKH), và CSA/NLKH như một giải pháp để nông nghiệp MNPB ứng phó BĐKH.

Kết thúc Phần III này, học viên sẽ có thể hiểu và thảo luận về:

1. Khái niệm NLKH

2. Làm thế nào để NLKH là một giải pháp của nông nghiệp ứng phó BĐKH 3. Một số hệ thống CSA/NLKH tiềm năng phù hợp cho miền núi phía Bắc

Một phần của tài liệu Nông lâm kết hợp giải pháp cho nông nghiệp thông minh với khí hậu vùng miền núi phía Bắc (Tài liệu tập huấn dùng để tập huấn TOT cho cán bộ nông, lâm nghiệp miền núi phía Bắc) (Trang 35 - 40)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(105 trang)