PHẦN III Nông lâm kết hợp - một giải pháp của CSA ở miền núi phía Bắc
III.1. Hiểu về nông lâm kết hợp
III.1.3. Để một hệ thống NLKH là giải pháp của CSA
Một hệ thống NLKH là giải pháp cho nông nghiệp thông minh với khí hậu (hệ thống CSA/NLKH) khi hệ thống này cùng một lúc giúp đạt 3 mục tiêu của CSA, bao gồm (i) thích ứng BĐKH, (ii) giảm thiểu BĐKH và ( iii) tăng trưởng sản xuất, đảm bảo ANLT.
(1) Thích ứng BĐKH
Hệ thống cần làm tăng khả năng chịu đựng của tất cả các cây, các con trong hệ thống đối với những điều kiện thời tiết bất lợi và với sâu bệnh hại: Để đạt được điều này, cần lựa chọn các loại cây, loại con phù hợp và nuôi trồng xen kẽ chúng với nhau theo những thiết kế phù hợp, chăm sóc chúng theo các quy trình kỹ thuật phù hợp với điều kiện khí hậu, địa hình và tính chất, cấu trúc đất, để tạo các cây khỏe, các con khỏe với sức chống chịu tốt hơn với các điều kiện bất thuận và sâu bệnh hại. Mặt khác, một hệ thống càng có nhiều loại cây (cả cây ngắn ngày và dài ngày, nhất là các cây đa giá trị sử dụng) và nhiều loại con, được nuôi trồng xen kẽ một cách phù hợp, càng cho đa dạng nhiều loại sản phầm, đa dạng thời gian thu hoạch, và nhờ vậy giảm thiểu được nguy cơ thất thu khi có thiên tai hoặc dịch bệnh. NẾU KHÔNG lựa chọn các loại cây, loại con và thiết kế hệ thống phù hợp, không sử dụng các kỹ thuật nuôi trồng phù hợp thì sẽ tạo ra tác động qua lại xấu giữa các thành phần trong hệ thống (như cạnh tranh thái quá về dinh dưỡng và ánh sáng, lấn át nhau về không gian v.v.) làm các cây, các
39 con không thể sinh trưởng khỏe mạnh, không thể chống chịu các điều kiện thời tiết khó khăn và sâu bệnh hại.
Hệ thống cần giúp bảo vệ, phục hồi và cải tạo được đất canh tác và nguồn nước: Cụ thể, thiết kế hệ thống cần hạn chế được xói mòn đất, cải thiện được dinh dưỡng đất và bảo vệ được các nguồn nước và các mạch nước ngầm. Việc tuân thủ các quy định của Chính phủ về thiết kế nương đồi và về chống xói mòn, bảo vệ đất như trong Quy phạm thiết kế đồi nương, ngày 17/7/1971 của Uỷ ban Nông nghiệp trung ương và Chỉ thị số 15-TTg, ngày 15/2/1964, về chống xói mòn, giữ đất, giữ nước, giữ màu của Thủ tướng Chính phủ, là cần thiết để thiết kế hệ thống NLKH có các tác động này. Theo các quy định này, ngoài việc tăng tính đa dạng bằng cách nuôi trồng xen kẽ nhiều loại cây, loại con, còn cần bổ sung vào trong hệ thống:
- Các cây trồng có khả năng cố định đạm và/hoặc che phủ, cải tạo dinh dưỡng đất: các loại đậu đỗ, lạc, cỏ stylo …
- Các cây rừng có hệ thống rễ rộng và ăn sâu để có thể bảo vệ đất khỏi bị sạt lở, xói mòn và đồng thời có thể là những ‘cái bơm’ hút chất dinh dưỡng từ sâu dưới lòng đất lên tầng trên cho các cây nông nghiệp sử dụng; Nhiều chất dinh dưỡng, như kali, phốt pho, canxi, magiê, và các vi chất được giải phóng từ quá trình phong hóa tại các tầng đất bên dưới sẽ được hệ thống rễ của các loại cây rừng này hút và đưa lên tầng đất trên. Mặt khác, những cây có bộ rễ khỏe, ăn sâu cũng có vai trò trong việc bảo tồn nguồn nước, giúp nước ngấm sâu và được giữ lại trong lòng đất. Một số nghiên cứu đã cho thấy rằng, lượng đất xói mòn và lượng nước chảy trên mặt đất giảm nhiều dưới tán rừng43.
Đặc biệt, đối với MNPB, nơi nhiều diện tích rừng đã không còn và hầu hết đất canh tác là đất dốc, việc bảo vệ đất khỏi bị sạt lở, xói mòn và bảo vệ nguồn nước đã và đang trở thành vấn đề cấp bách, các hệ thống NLKH ở khu vực này càng cần thiết phải bao gồm nhiều cây rừng có bộ rễ phát triển khỏe và ăn sâu vào lòng đất.
(2) Giảm thiểu BĐKH
Hệ thống cần có khả năng tích trữ các-bon: Để đạt được điều này, hệ thống cần có nhiều cây thân gỗ lâu năm, đặc biệt là các cây gỗ lâm nghiệp với chu kỳ sinh trưởng dài và cho sinh thái gỗ lớn để làm thành những bể chứa các-bon. Những hệ thống như vậy còn là giải pháp làm giàu rừng và/hoặc tăng diện tích rừng, và/hoặc góp phần quản lý rừng bền vững. Đồng thời, các hệ thống này cũng giúp hạn chế xói mòn, sạt lở đất, và nhờ đó giảm phát thải KNK do phân hủy chất hữu cơ bị rửa trôi cùng với đất khi đất bị xói mòn, sạt lở. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tùy thuộc vào thiết kế cụ thể, lượng các-bon được hấp thụ và lưu trữ trong các hệ thống NLKH là khoảng 0,29 - 15,21 tấn/ha/năm trên mặt đất và 30 - 300 tấn/ha/năm dưới mặt
43Giáo trình Nông lâm kết hợp, Nxb Nông nghiệp Hà Nội 2007.
40 đất (sâu tới 1 m)44. Đối với miền núi phía Bắc, nơi chủ yếu đất canh tác là đất dốc và rừng tự nhiên hầu như không còn, việc tuân thủ các quy định của Chính phủ trong Quy phạm thiết kế nương đồi, ngày 17/7/1971 của Uỷ ban Nông nghiệp trung ương và Chỉ thị số 15-TTg của Thủ tướng chính phủ, ngày 15/2/1964, về chống xói mòn, giữ đất, giữ nước, giữ màu là cần thiết để có thể thiết kế được các hệ thống như vậy.
Hệ thống cần giảm thiểu tác động tiêu cực tới môi trường và phát thải KNK do các hoạt động canh tác và quản lý cây trồng, vật nuôi: Ngoài thiết kế nuôi trồng xen kẽ như đã thảo luận ở trên, trong hệ thống, các thực hành nuôi trồng cây, con cần phải tuân thủ các nguyên lý bảo vệ đất, giữ màu, giữ nước, giảm tác động không tốt môi trường, đồng thời cũng cần quản lý rác thải, qua đó tiếp tục giảm phát thải KNK và giảm thiểu BĐKH. Các nguyên lý này có thể tóm tắt như sau:
- Để bảo vệ đất (hạn chế sạt lở, xói mòn, rửa trôi đất; gữi ẩm, giữ màu cho đất): Giảm tối thiểu việc làm xáo trộn bề mặt đất, giảm tác động của nước và gió tới lớp đất bề mặt. Điều này có thể thực hiện bằng các cách:
o Giữ cho mặt đất luôn được che phủ (bằng tàn dư cây cối hoặc bằng chính tán lá các cây trồng trong hệ thống);
o Không cày/cuốc/xới toàn bộ bề mặt ruộng/nương, mà chỉ bổ hốc hoặc rạch hàng trồng cây theo đường đồng mức hoặc theo các bậc thang;
o Tạo các bờ ngăn đồng mức bằng cây xanh hoặc bằng các vật liệu phù hợp khác để ngăn/giảm tốc độ dòng chảy của nước mưa;
o Tạo các hàng rào chắn gió, chắn cát, chắn nước ở những nơi cần thiết, như ven khe rạch, sông, suối, hồ, ao, trên đỉnh đồi, dưới chân đồi, ven đường đi, ven biển v.v.
- Để hạn chế làm ô nhiễm môi trường đất và giảm phát thải khi nhà kính do tồn dư hóa chất nông nghiệp: Sử dụng hiệu quả vật tư, nhiên liệu, nguyên liệu sản xuất, không để tàn dư hóa chất, nguyên nhiên liệu và rác thải vào môi trường, Cụ thể:
o Sử dụng hiệu quả và tiết kiệm vật tư, nhiên liệu sản xuất, đặc biệt là nhiên liệu hóa thạch, các loại phân bón và thuốc bảo vệ thực vật;
o Luôn tuân thủ nguyên tắc 4 đúng trong sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật - ĐÚNG CHỦNG LOẠI, ĐÚNG LIỀU LƯỢNG, ĐÚNG LÚC, ĐÚNG CÁCH.
o Xử lý và tái sử dụng phế phụ phẩm cây trồng, vật nuôi và rác thải hữu cơ khác.
- Làm giàu đất và trả lại cho đất độ mùn, độ màu mỡ và dinh dưỡng bị mất đi do quá trình canh tác, sản xuất cây trồng, vật nuôi, bằng các cách:
44Catacutan, Delia C., Meine van Noordwijk, Nguyen Tien Hai, Ingrid Oborn, & Agustin R. Mercado. 2017.
Agroforestry: Contribution to Food Security and Climate-Change Adaptation and Mitigation in Southeast Asia.
41 o Trồng xen canh và luân canh theo các chế độ hợp lý, ưu tiên sử dụng các loại
cây có khả năng cái tạo đất như các cây họ đậu, cây cho sinh khối lớn làm phân xanh v.v.;
o Chăm sóc cây theo các quy trình kỹ thuật phù hợp, tưới nước và bón phân hợp lý (ICM, IPM, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái v.v.);
o Tái sử dụng rác thải hữu cơ làm phân bón cho đất.
(3) Tăng trưởng sản xuất, đảm bảo ANLT
Một tiêu chí của thực hành CSA là góp phần tăng trưởng sản xuất, đảm bảo ANLT một cách bền vững. Như vậy, để một hệ thống NLKH có tác động như một giải pháp của CSA cần lựa chọn kết hợp nuôi trồng các loại cây, con cần sao cho hệ thống:
- Phù hợp để nông dân có thể ứng dụng (phù hợp về điều kiện tự nhiên và về trình độ kỹ thuật, văn hóa, tín ngưỡng và khả năng đầu tư tài chính và công lao động của nông hộ);
- Cho tổng thu nhập hàng năm tăng so với hệ thống sản xuất thông thường;
- Tạo thu nhập thường xuyên, giúp ‘lấy ngắn nuôi dài’ để người sản xuất (nhất là những hộ khó khăn) có nguồn thu để trang trải chi phí sinh hoạt hàng ngày và duy trì hệ thống;
- Có khả năng thích ứng BĐKH và cho thu nhập tăng so với hệ thống sản xuất thông thường trong điều kiện có những biến động bất lợi về thời tiết.
Như vậy, để một hệ thống NLKH là thực hành CSA, các thành phần trong hệ thống không chỉ có tương tác với nhau về kinh tế và sinh thái, mà mối tương tác này phải là mối tương tác tích cực và có lợi, giúp các thành phần có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, giúp cải thiện thu nhập, hiệu quả kinh tế và khả năng thích ứng, giảm thiểu BĐKH của hệ thống