PHẦN III Nông lâm kết hợp - một giải pháp của CSA ở miền núi phía Bắc
III.1. Hiểu về nông lâm kết hợp
III.1.2. Khái niệm nông lâm kết hợp
Như vậy có thể thấy, nông lâm kết hợp (NLKH) tuy là khái niệm mới nhưng lại để gọi một số thực hành sản xuất cũ như đã trình bày tóm tắt ở trên. Theo thời gian cũng đã có nhiều định nghĩa khác nhau cho khái niệm này.
30Bene J.G., Beall H. W., Coote A., 1977. Trees, food, and people: land management in the tropics. Ottawa, IDRC, 1977. 52 p.
31Nair P.K.R., 1993. An introduction to agroforestry, xuất bản bới Published by Kluwer Academic Publishers và ICRAF
32Nguyễn Viết Khoa và cs., 2006. Sản xuất nông lâm kết hợp ở Việt Nam. Trong “Cẩm nang ngành lâm nghiệp”, xuất bản theo ‘’Chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp và đối tác” của Bộ NN&PTNT
33Phạm Thị Sến và cs. (ed.), 2008. Bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật vườn gia đình ở nông thôn miền Bắc Việt Nam. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, 2008, 184 trg.
35 Định nghĩa chính thức đầu tiên về NLKH do Bene và các cộng sự đưa ra năm 1977 trong báo cáo kết quả nghiên cứu và đề xuất để tối ưu hóa việc quản lý, sử dụng đất ở các vùng nhiệt đới34. Theo định nghĩa này,
Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất bền vững, làm gia tăng sức sản xuất tổng thể của đất, phối hợp sản xuất, cùng lúc hay kế tiếp nhau trên cùng một khu vực đất, các loại cây nông nghiệp, cây gỗ trồng (tree crops) và cây rừng và/hoặc gia súc, ứng dụng các kỹ thuật canh tác phù hợp với các điều kiện văn hóa, xã hội của dân cư địa phương.
Năm 1979 Hội đồng Nghiên cứu và Phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và tài nguyên thiên nhiên của Philipine (PCARRD) đưa ra định nghĩa ngắn gọn hơn35, theo đó,
Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất, trong đó các sản phẩm của rừng và trồng trọt được sản xuất cùng lúc hay kế tiếp nhau trên cùng một khu vực đất để tạo ra các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho cộng đồng cư dân địa phương.
Tuy vậy, về sau này, PCARRD cũng sử dụng những định nghĩa khác của ICRAF36. Nhưng, việc đưa vào định nghĩa sự khẳng định về tính hiệu quả trong việc quản lý đất, tăng lợi ích kinh tế, hoặc tăng sức sản xuất của đất của NLKH là không đúng. Những điều này là mục tiêu hướng tới của NLKH, cũng giống như nhiều hình thức sử dụng đất khác cũng có mục tiêu như vậy. Tuy nhiên, nhiều hình thức sử dụng đất khác, cũng như NLKH, đều có thể thất bại, và thực tế nhiều khi đã thất bại, không đạt được các mục tiêu này. Trong một hệ thống NLKH, nếu không lựa chọn đúng các loại cây, loại con và nuôi trồng chúng đan xen theo những thiết kế và kỹ thuật phù hợp thì không những không đạt được mục tiêu quản lý đất bền vững, tăng năng suất và lợi ích kinh tế, mà còn có thể có tác động ngược lại, làm giảm tính bền vững và năng suất cũng như hiệu quả kinh tế của hệ thống.
Theo Nair37, định nghĩa về NLKH cần nêu được 2 điểm thống nhất của tất cả các kiểu hệ thống NLKH và đồng thời phải cho thấy sự khác biệt của NLKH với các hình thức sử dụng đất khác. Hai điểm thống nhất của tất cả các hệ thống NLKH là:
(1) Chủ định sử dụng (trồng hoặc sử dụng cây có sẵn) cây gỗ lâu năm trên cùng khu vực đất với các cây trồng nông nghiệp và/hoặc vật nuôi, xen nhau theo thời gian hoặc không gian;
(2) Có tác động qua lại một cách đáng kể, về sinh thái và/hoặc về kinh tế, giữa 2 thành
34Bene J.G., Beall H. W., Coote A., 1977. Trees, food, and people: land management in the tropics. Ottawa, IDRC, 1977. 52 p
35http://enews.agu.edu.vn/index.php
36PCARRD, 2003. R&D status and directions (2000 and beyond): Agroforestry and multipurpose trees and shrubs, 55p
37Nair P.K.R., 1993. An introduction to agroforestry, xuất bản bới Published by Kluwer Academic Publishers và ICRAF
36 phần gỗ và không gỗ.
ICRAF trong những năm đầu 1980 đã định nghĩa38:
Nông lâm kết hợp là tên gọi chung của những hệ thống sử dụng đất trong đó các cây thân gỗ lâu năm (cây gỗ, cây bụi, cọ, tre...) được sử dụng có chủ ý trên cùng một khu vực đất với các cây nông nghiệp và/hoặc với vật nuôi, đan xen nhau theo không gian hoặc thời gian. Trong các hệ thống NLKH, các thành phần của hệ thống có tác động qua lại với nhau, về sinh thái và cả về kinh tế.
Định nghĩa của Young (1997)39 cụ thể hơn một chút:
Nông lâm kết hợp là tên gọi chung của các hệ thống sử dụng đất trong đó cây thân gỗ lâu năm (cây gỗ, cây bụi v.v) được trồng kết hợp với cây thân thảo (cây trồng nông nghiệp, cỏ chăn nuôi) và/hoặc với vật nuôi, xen kẽ theo không gian hoặc thời gian, hoặc cả hai, mà có sự tương tác qua lại cả về sinh thái và về kinh tế giữa các thành phần cây thân gỗ và không phải cây thân gỗ.
Trong “Cẩm nang ngành lâm nghiệp”, xuất bản năm 2006 bởi Chương trình “Hỗ trợ ngành lâm nghiệp và đối tác” của Bộ NN&PTNT40,
Nông lâm kết hợp thực chất là sự sắp xếp hợp lý các loại hình sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, ngư nghiệp và cây lâm nghiệp trên một địa bàn đất đai sản xuất cụ thể của một huyện, một xã, một đội sản xuất, thậm chí trên một quả đồi.
Chính ICRAF cũng đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về NLKH41. Mới đây nhất, trong chiến lược 2017 - 2026 của mình, ICRAF sử dụng định nghĩa tổng quát về NLKH như sau:
Nông lâm kết hợp là thực hành và khoa học của sự giao thoa và tương tác giữa nông nghiệp và lâm nghiệp, với các đối tượng liên quan là nông dân, vật nuôi, cây lớn (tree) và rừng, ở các cấp độ khác nhau42.
Trong chiến lược này, ICRAF cũng diễn giải cụ thể hơn về NLKH. Theo đó, khái niệm cây lớn (tree) ở đây bao gồm toàn bộ các cây thân gỗ lâu năm, cây cọ, và tre, nứa. (Ở đây tạm dịch là cây lớn lâu năm). Như vậy, NLKH là sự tương tác giữa nông nghiệp và những cây lớn lâu năm, bao gồm cả việc sử dụng các cây này cho mục đích nông nghiệp. NLKH sử dụng
38Lundgren, B.O. and Raintree, J.B, 1982. Sustained agroforestry. In: Nestel, B. (ed.). Agricultural Research for Development: Potentials and Challenges in Asia, pp. 37-49. ISNAR, The Hague, The Netherlands
39Young A., 1997. Agroforestry for Soil Management. Xuất bản bởi CAB International in association with International Centre for Research in Agroforestry, Second edition, United Kingdom.
40 Nguyễn Hữu Khoa và cs., 2006. “Cẩm nang ngành lâm nghiệp: Chương Sản xuất nông lâm kết hợp”. Xuất bản năm 2006 trong khuôn khổ Chương trình Hỗ trợ ngành lâm nghiệp và đối tác
41Bowman J., 2003. The potential role of agroforestry in community-based forest management (CBFM) areas supported by USAID’s ecogovernance project.
42World Agroforestry Centre. 2017. Corporate Strategy 2017-2026: Transforming Lives and Landscape with Trees.
37 cách tiếp cận sinh thái nông nghiệp, tập trung vào khía cạnh đa chức năng và quản lý các hệ thống phức tạp và đa canh, thay vì chỉ tập trung vào độc canh. Sự tương tác giữa những cây lớn lâu năm và các hợp phần khác trong NLKH có vai trò quan trọng ở các cấp độ và quy mô khác nhau:
- Ở quy mô ruộng, nương: những cây lớn lâu năm và cây trồng nông nghiệp được trồng cùng nhau trên một ruộng hay một nương;
- Ở quy mô trang trại: những cây lớn lâu năm có thể cung cấp thức ăn cho gia súc;
nhiên liệu, lương thực và thực phẩm cho con người; làm lá chắn bảo vệ hoặc tạo thêm thu nhập từ nhiều loại sản phẩm, bao gồm cả gỗ;
- Ở quy mô cảnh quan: việc sử dụng đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp được kết hợp với nhau để cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái;
- Ở cấp quốc gia và quốc tế: lâm nghiệp và nông nghiệp tương tác lẫn nhau về sinh thái và thông qua các chính sách về sử dụng đất và chính sách về thương mại; Sự tương tác này có vai trò quan trọng đối với các quan tâm về BĐKH và sinh thái.
Như vậy có thể thấy, cùng với thời gian, đã có những cách định nghĩa và diễn giải khác nhau về NLKH. Theo những định nghĩa ban đầu, NLKH bao gồm hai thành phần, là lâm nghiệp (cây lâm nghiệp, được trồng hoặc mọc tự nhiên) và sản xuất nông nghiệp (cây trồng và/hoặc vật nuôi và/hoặc thủy sản) kết hợp cùng nhau. Về sau, khái niệm này được mở rộng; thành phần lâm nghiệp có thể được thay bằng cây thân gỗ lớn và cây bụi lâu năm. Mặc dù vậy, tất cả các khái niệm đều có chung một điểm thống nhất là, NLKH là hình thức quản lý, sử dụng đất ở đó khuyến khích sử dụng đan xen nhiều loại cây, trong đó phải bao gồm cây lớn lâu năm, đồng thời các thành phần trong hệ thống phải có tác động qua lại với nhau về cả sinh thái và kinh tế.
Trong “Cẩm nang ngành lâm nghiệp”, được xuất bản năm 2006 trong khuôn khổ Chương trình “Ngành lâm nghiệp và hỗ trợ đối tác” của Bộ NN&PTNT, ngoài các hệ thống sản xuất có kết hợp giữa nông nghiệp và cây lâm nghiệp, thì hệ thống gồm đa dạng các cây nông nghiệp đan xen nhau thành hệ sinh thái 3 tầng cũng là NLKH. Trong đó, tầng I gồm những cây ăn quả thân gỗ cao to, ưa ánh sáng mạnh, như sầu riêng, dừa, xoài, mít v.v. Tầng II gồm các cây thân gỗ có kích cỡ trung bình, ưa sáng trung bình, tán lá rậm, được tỉa cành, tạo tán, như măng cụt, dâu da, hồng xiêm, cam, quýt, na, chanh, bưởi v.v.). Tầng III gồm các cây có kích thước thấp, nhỏ, có thể chịu bóng (như hồ tiêu, cà phê, sắn dây, bòng bong, chuối, me rừng, một số cây LTTP, gia vị vv.).
Để thuận lợi cho việc thảo luận, hướng tới thiết kế và phát triển được các hệ thống NLKH đạt mục tiêu bảo vệ và quản lý hiệu quả tài nguyên đất và nước, đồng thời tăng lợi ích kinh tế cho người sản xuất trong bối cảnh của MNPB hiện nay, trong khuôn khổ tài liệu này,
Nông lâm kết hợp được hiểu là phương thức sản xuất kết hợp giữa nông nghiệp (trồng trọt và/hoặc chăn nuôi và/hoặc thủy sản) với cây gỗ lâm nghiệp, đan xen nhau
38 theo thời gian hoặc không gian trên cùng một khu đất, hoặc kết hợp đa dạng các loại cây nông nghiệp đan xen nhau thành hệ sinh thái đa tầng, trong dó các thành phần tương tác quan lại với nhau về cả sinh thái và kinh tế.
Cụ thể, xét về các thành phần chính, sẽ có các dạng hệ thống NLKH như sau:
(1) Hệ thống NLKH với 3 thành phần, gồm (i) cây gỗ lâm nghiệp, (ii) cây nông nghiệp (lâu năm hay hàng năm, hoặc cả hai) và (iii) gia súc/gia cầm/thủy sản;
(2) Hệ thống NLKH với 2 thành phần, gồm (i) cây gỗ lâm nghiệp và (ii) gia súc/gia cầm/thủy sản;
(3) Hệ thống NLKH với 2 thành phần, gồm (i) cây gỗ lâm nghiệp và (ii) cây trồng nông nghiệp (lâu năm hay hàng năm, hoặc cả hai).
(4) Hệ thống NLKH với 1 thành phần là cây nông nghiệp, nhưng gồm đa dạng các loại cây được trồng đan xen nhau thành nhiều tầng, và có tương tác quan lại với nhau cả về kinh tế và sinh thái.
Mỗi dạng hệ thống NLKH nói trên đều có thể có thêm những thành phần phụ khác, như cây dược liệu, cây lâm nghiệp không cho sản phẩm gỗ (ví dụ mây, tre, nứa…), ong mật v.v.