Một số thực hành, hệ thống CSA tiềm năng phù hợp cho MNPB

Một phần của tài liệu Nông lâm kết hợp giải pháp cho nông nghiệp thông minh với khí hậu vùng miền núi phía Bắc (Tài liệu tập huấn dùng để tập huấn TOT cho cán bộ nông, lâm nghiệp miền núi phía Bắc) (Trang 23 - 31)

II.1. Hiểu về nông nghiệp thông minh với khí hậu

II.1.2. Một số thực hành, hệ thống CSA tiềm năng phù hợp cho MNPB

Kết quả nghiên cứu thống kê, mô tả và đánh giá thực trạng ứng dụng các thực hành CSA tại Việt Nam đã được công bố tại một số tài liệu. Chẳng hạn như cuốn sách tham khảo “CSA - Thực hành nông nghiệp thông minh với khí hậu ở Việt Nam” của nhóm tác giả Phạm Thi Sến và cộng sự, xuất bản năm 2017. Vì vậy, tài liệu này chỉ giới thiệu vắn tắt một số thực hành và hệ thống CSA có tiềm năng phù hợp cho MNPB. Chi tiết hơn về các thực hành này có thể được tìm thấy ở cuốn sách tham khảo nói trên.

16 II.1.2.1. Trong sản xuất lúa nước

a) Các gói kỹ thuật thâm canh bền vững lúa nước:

- IPM (quản lý sâu bệnh hại tổng hợp);

- ICM (quản lý cây trồng tổng hợp);

- SRI (thâm canh lúa bền vững);

Đặc điểm chung của các gói kỹ thuật này là yêu cầu sử dụng giống lúa phù hợp với điều kiện địa phương, cấy mạ non, cấy thưa, áp dụng chế độ tưới nước hợp lý, sử dụng phân bón và thuốc BVTV theo nguyên tắc 4 đúng (đúng chủng loại, đúng liều lượng, đúng lúc, và đúng cách). Như vậy, ứng dụng các gói kỹ thuật này sẽ làm giảm phát thải khí nhà kính, giảm chi phí đầu tư, đồng thời giúp cây lúa sinh trưởng khỏe, thích ứng tốt hơn với những thay đổi về thời tiết, và cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn. Cụ thể, tùy vào giống lúa và điều kiện cụ thể, việc ứng dụng các gói kỹ thuật này có thể:

- Giảm chi phí về giống tới 50%-80%, giảm chi phí về phân bón và thuốc bảo vệ thực vật tới 30%;

- Tăng lợi nhuận tới 3-5%;

- Giảm lượng nước tưới cần thiết cho lúa, tăng hiệu quả sử dụng nước, góp phần bảo vệ nguồn nước và môi trường;

- Giảm tới 50% lượng khí nhà kính phát thải từ sản xuất lúa nước;

Thực hành ICM trên lúa (ảnh: Cao Bằng, 2011; NOMAFSI)

17 b) Sử dụng phân nén dúi sâu cho lúa nước

Đây là một tiến bộ kỹ thuật có mục tiêu tăng hiệu quả sử dụng, giảm chi phí đầu tư về phân bón, đồng thời cải thiện sinh trưởng và phát triển, tăng năng suất và hiệu quả kinh tế của cây lúa. Phân ka-li và ni-tơ được trộn lẫn và nén thành viên để sử dụng bón dúi (5 - 8 cm sâu) dưới bề mặt ruộng, gần các vùng phát triển của rễ cây lúa.

Lợi ích của phân nén dúi là giảm độ bốc hơi và rửa trôi của phân bón, tối ưu hiệu quả sử dụng phân bón, nhờ đó làm giảm lượng phân cần bón, giảm phát thải khí nhà kính, và giảm ô nhiễm bởi dư lượng phân bón tới môi trường, nguồn nước, giúp cây lúa sinh trưởng phát triển khỏe mạnh. Theo CODESPA21, sử dụng kỹ thuật này, lượng phân đạm cần bón cho lúa có thể giảm tới 35% và tăng năng suất lúa 10-20%.

II.1.2.2. Trong canh tác trên đất dốc

Từ những năm 1960 Chính phủ Việt Nam đã ban hành các văn bản chính sách, quy định nhằm bảo vệ và quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên đất, tiêu biểu là Chỉ thị về chống xói mòn, giữ đất, giữ nước của Thủ Tướng năm 1964 và Quy phạm về thiết kế đồi nương của Ủy ban Nông nghiệp trung ương năm 1971. Các văn bản chính sách này hiện nay vẫn còn hiệu lực. Tuân thủ các quy định trong các văn bản này của Chính phủ (như tóm tắt dưới đây), chính là thực hành canh tác bền vững và bảo vệ đất dốc một cách hiệu quả nhất.

Chỉ thị số 15-TTg, ngày 15/2/1964 về chống xói mòn, giữ đất, giữ nước, giữ màu, quy định:

- Chỉ được trồng cây hàng năm ở đất dốc dưới 20 độ;

- Chỉ được trồng cây lâu năm ở đất dốc dưới 30 độ;

- Phải có chế độ luân canh, bón phân hợp lý đối với từng loại đất và từng loại cây nhằm trả lại mầu mỡ và bồi dưỡng đất. Trong mọi trường hợp có thể trồng những loại cây có tác dụng che phủ đất và bồi dưỡng đất; nên tranh thủ trồng nhiều những loại cây họ đậu, cây phân xanh xen vào giữa các cây lâu năm;

- Ở đất dốc nhất thiết không trồng cây xuôi theo chiều dốc, mà phải trồng cây theo đường đồng mức (thành hàng rào, thành vành nón) để giữ đất. Cầy, bừa, cuốc, xới cũng phải theo đường đồng mức kết hợp với khơi rãnh ngang, đắp bờ ngang và gây thành bậc thang, v.v.

21 CODESPA, 2011. Root solutions: Fertilizer Deep Placement (FDP) for poverty reduction in Vietnam

18 Quy phạm thiết kế đồi nương, ngày 17/7/1971 của Uỷ ban Nông nghiệp trung ương:

- Ở những đồi có độ dốc từ 10 độ trở lên nhất thiết phải chừa lại đất rừng ở chỏm đồi, diện tích chỏm đồi chừa lại bằng 7 - 12% diện tích quả đồi;

- Ở những quả đồi có chiều dài dốc từ 150 m trở lên, cứ 80 m chừa lại một băng theo đường đồng mức, bề rộng băng 8 -10 m;

- Ở chân đồi chừa băng 5 - 10 m, tính từ chân đồi trở lên;

- Ở ven khe, suối, lạch chừa lại băng rộng gấp 2 - 3 lần chiều sâu của khe, suối, lạch;

chiều rộng băng ít nhất phải là 5 m.

- Đối với tất cả các chỏm đồi và các băng chừa lại đều phải cải tạo, tu bổ, trồng bổ sung cây rừng cho đủ mật độ và phải kết hợp chặt chẽ với các đai rừng trồng để tạo thành mạng lưới đai rừng phòng hộ bảo vệ đất;

- Đảm bảo có các công trình bảo vệ đất chống xói mòn, không được để đất hoang hoá.

Các vùng đất dốc nếu chưa đưa vào sản xuất ngay được thì phải trồng cây che phủ đất;

- Tận dụng tất cả những đất không có khả năng nông nghiệp và đất dọc đường giao thông để trồng cây rừng.

Hình 2.1: Mô phỏng thiết kế nương đồi theo quy định của Chính phủ

Nhiều thực hành CSA đã và đang được thử nghiệm ứng dụng và cho thấy tiềm năng phù hợp để mở rộng trên đất dốc ở miền núi phía Bắc. Dưới đây là một số thực hành tiêu biểu.

19 a) Che phủ bề mặt đất và làm đất tối thiểu

Không đốt cũng không dọn bỏ tàn dư thực vật (thân xác cây trồng và cỏ dại) mà giữ lại trên ruộng nương để làm vật liệu che phủ bề mặt đất.

Không cày, không cuốc toàn bộ ruộng nương mà chỉ rạch hàng hoặc cuốc hốc, hoặc chọc lỗ, theo đường vành nón (đường đồng mức) để bón phân và tra hạt/trồng cây.

b) Trồng xen

Các loại cây trồng xen phổ biến được sử dụng MNPB là các loại cây họ đậu, bầu bí. Những cây này có thể dùng để trồng xen với các cây lương thực ngắn ngày, như lúa, ngô, sắn v.v, hoặc trồng xen trong các nương cây lâu năm, nhất là cây ăn quả.

Nhiều loại cây ngắn ngày, gồm các cây lương thực như lúa, ngô hay sắn và cây màu như bí, đậu, lạc … cũng được trồng xen trong nương, vườn các cây lâu năm, như các loại cây công nghiệp (chè, cà phê, cao su) hoặc cây ăn quả (cam, mận, lê, hồng, xoài, nhãn, vải …)

c) Trồng cây theo các tiểu bậc thang

Chè trên các tiểu bậc thang (ảnh: Lai Châu, 9/2019; Phạm Thị Sến)

Các tiểu bậc thang được tạo từ dưới chân đồi lên đỉnh đồi theo đường đồng mức. Bề mặt của tiểu bậc thang đủ rộng để trồng 1 hàng cây. Như vậy, khoảng cách và độ rộng của các tiểu

20 bậc thang tùy thuộc vào độ dốc của nương và phụ thuộc vào cây trồng. Ngoài ra, cần kết hợp ứng dụng thực hành che phủ đất và/hoặc trồng xen để tăng hiệu quả chống xói mòn đất.

d) Tạo các băng cỏ hoặc băng cây xanh khác theo đường đồng mức

Sử dụng các loại cỏ chăn nuôi (Guatemala, Guinea (Ghine), Vetiver, Paspalum, Miscanthus, VA06, Mulato, Ruzi…) hoặc các loại cây họ đậu thân gỗ như (cốt khí, muồng hoa vàng, đậu triều…) trồng thành các đường đồng mức để giảm đất bị xói mòn, rửa trôi. Khoảng cách giữa các băng cây xanh đồng mức tùy thuộc vào độ dốc của nương. Đối với đất dốc dưới 15 độ, khoảng cách khuyến cáo là 10 mét, với độ dốc cao hơn, khoảng cách là 6 - 8 mét.

II.1.2.3. Trong sản xuất tăng vụ

Kỹ thuật trồng ngô bầu

Kỹ thuật này thích hợp để ứng dụng cho sản xuất ngô vụ đông trên chân đất 2 vụ lúa. Ngô giống được gieo khoảng 10 ngày trước khi thu hoạch lúa, để ngay sau khi thu hoạch lúa có thể trồng ngô. Điều này giúp cây ngô có đủ thời gian sinh trưởng trong vụ đông, tránh được thời tiết rét ở cuối vụ, nhờ đó cho năng suất và hiệu quả kinh tế tốt hơn.

II.1.2.4. Trong xử lý rác thải nông nghiệp

Thực hành ủ chua phụ phẩm cây trồng làm thức ăn gia súc (ảnh: Yên Bái 10/2016; Đỗ Trọng Hiếu)

21 Một số kỹ thuật tiềm năng đã được thử nghiệm và cho thấy phù hợp để mở rộng ứng dụng, bao gồm:

- Sử dụng rơm rạ để nuôi trồng nấm;

- Xử lý rơm rạ và rác thải hữu cơ để làm phân hữu cơ;

- Xử lý nhanh rơm rạ trên đồng ruộng để gieo trồng vụ sau;

- Ủ chua phụ phẩm một số cây trồng làm thức ăn gia súc;

- Sử dụng rơm rạ là vật liệu che phủ đất trồng hoa màu;

- Nuôi giun quế (trùn quế) để xử lý rác thải chăn nuôi và làm thức ăn chăn nuôi.

Ứng dụng các kỹ thuật này có thể hạn chế tình trạng đốt rơm, rạ gây khói bụi, ô nhiễm môi trường hiện đang diễn ra rất phổ biến ở MNPB, giúp xử lý rác thải trong chăn nuôi và trồng trọt, nhờ đó giúp giảm phát thải KNK và ô nhiễm môi trường; đồng thời tạo nguồn phân hữu cơ và thức ăn chăn nuôi, giúp giảm chi phí đầu tư cho sản xuất và tăng hiệu quả kinh tế cũng như thu nhập cho nông hộ.

II.1.2.5. Trong sản xuất nông sản chất lượng theo hướng bền vững

a) Sản xuất nông nghiệp hữu cơ (NNHC) NNHC tuân thủ các nguyên tắc:

- Không sử dụng thuốc BVTV và thuốc trừ cỏ bằng hóa chất tổng hợp;

- Không sử dụng phân bón hóa học tổng hợp;

- Không sử dụng chất kích thích, điều hòa sinh trưởng tổng hợp;

- Không sử dụng giống biến đổi gen;

- Không sử dụng hóa chất bảo quản;

- Không sử dụng đất canh tác và nguồn nước bẩn, nhiễm hóa chất và sinh vật có hại để sản xuất;

- Chỉ sử dụng phân hữu cơ, thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học, an toàn cho người và động vật.

- Toàn bộ chất thải nông nghiệp từ cây trồng, vật nuôi được xử lý thành phân bón hữu cơ hoặc thức ăn chăn nuôi.

Nông nghiệp hữu cơ, về lâu dài, có tác động tích cực trong việc khôi phục và bảo vệ đất canh tác, môi trường đất, nước, không khí và cân bằng sinh thái, giảm phát thải KNK, đồng thời cũng giúp cây trồng, vật nuôi ít bị ảnh hưởng bởi những điều kiện thời tiết bất lợi, như nóng,

22 rét, khô hạn, mưa to, gió lớn v.v.; Cải thiện chất lượng sản phẩm nông nghiệp, đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm, tăng giá trị hàng hóa.

Có thể mở rộng ứng dụng NNHC ở tất cả các vùng miền, đối với tất cả các loại cây trồng, vật nuôi. Khó khăn lớn nhất để nông dân ứng dụng là trong những năm đầu năng suất cây trồng, vật nuôi thường bị giảm, sản phẩm chưa đạt tiêu chuẩn hữu cơ nên thu nhập bị giảm, sản xuất không có lãi. Một khó khăn nữa là thị trường cho sản phẩm hữu cơ không ổn định, giá bán sản phẩm nhiều khi quá thấp để người sản xuất có thể chấp nhận.

b) Một số thực hành sản xuất nông nghiệp tốt khác - Quản lý cây trồng tổng hợp (ICM);

- Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM);

- Sản xuất theo VietGAP hoặc GlobalGAP;

Những thực hành này (ICM, IPM, VietGAP, GlobalGAP) đều tuân thủ những nguyên lý cơ bản sau:

- Trồng cây giống khỏe: Sử dụng giống thích hợp, cây giống, hạt giống khỏe;

- Gieo trồng đúng mùa vụ, - Gieo trồng đúng mật độ hợp lý;

- Bón đủ và cân đối các loại phân, tuân thủ nguyên tắc 4 đúng: đúng loại phân, đúng liều lượng, đúng lúc và đúng cách;

- Tưới đủ nước; lựa chọn sử dụng những phương pháp tưới tiết kiệm nước;

- Bảo vệ thiên địch và tạo điều kiện cho thiên địch tiêu diệt sâu và mầm bệnh hại;

- Quan sát đồng ruộng thường xuyên để theo dõi tình trạng sinh trưởng, phát triển của cây trồng, phát hiện những vấn đề phát sinh cũng như sự xuất hiện sâu bệnh để có biện pháp xử lý kịp thời;

- Chỉ dùng thuốc BVTV khi thật cần thiết (khi mật độ sâu bệnh tới ngưỡng kinh tế);

- Dùng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng: đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng lúc và đúng cách;

- Thu hoạch đúng thời điểm, quan sát cả điều kiện thời tiết để lựa chọn thời điểm thu hoạch hợp lý; Xử lý sau thu hoạch, đóng gói và bảo quản sản phẩm theo các qui trình phù hợp, giảm tối thiểu thất thoát và hư hại trong bảo quản, vận chuyển;

- Vệ sinh đồng ruộng: Quan sát và loại bỏ mầm sâu bệnh sớm nhất có thể, ngay cả khi không có cây trồng trên ruộng.

23 Với các nguyên lý trên, những thực hành này giúp tạo được cây trồng khỏe, sinh trưởng và phát triển tốt, có khả năng thích nghi và/hoặc chống chịu những điều kiện thời tiết xấu và sâu bệnh; đồng thời giảm được chi phí thuốc BVTV, phân bón và lượng giống sử dụng, vì thế giúp giảm phát thải KNK, cải thiện chất lượng sản phẩm và cho thu nhập, hiệu quả kinh tế tăng.

Những thực hành này có thể mở rộng ứng dụng ở tất cả các nơi, cho tất cả các loại cây trồng.

Tuy nhiên, để thành công và hiệu quả cần được thực hiện đồng bộ trên qui mô cánh đồng lớn hoặc ở cấp cộng đồng, vì thế cần có những hoạt động tập thể, nhiều nông hộ cùng thực hiện.

II.1.2.6. Trong lĩnh vực nông lâm kết hợp

Nông lâm kết hợp (NLKH) là các hệ thống sản xuất tổng hợp, kết hợp giữa nông nghiệp và lâm nghiệp. Trong các hệ thống nông lâm kết hợp, cây trồng nông nghiệp và/hoặc gia súc được nuôi trồng trên cùng khoảnh đất, trong cùng một khoảng thời gian hoặc luân phiên, với cây lâm nghiệp, nhằm tạo đa dạng nguồn thu, tăng thu nhập cho người sản xuất. Có nhiều hệ thống NLKH, gồm các cây, các con phù hợp được nuôi trồng đan xen theo những thiết kế và quy trình kỹ thuật thích hợp, không những cho thu nhập tăng mà còn có tác động làm tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên đất, tài nguyên nước, tăng khả năng thích ứng và giảm thiểu BĐKH của các nông hộ và cộng đồng. Những hệ thống NLKH như vậy chính là hệ thống CSA. Chi tiết hơn về nông lâm kết hợp và những hệ thống CSA/NLKH sẽ được thảo luận sau đây, ở phần III của tài liệu này.

Một phần của tài liệu Nông lâm kết hợp giải pháp cho nông nghiệp thông minh với khí hậu vùng miền núi phía Bắc (Tài liệu tập huấn dùng để tập huấn TOT cho cán bộ nông, lâm nghiệp miền núi phía Bắc) (Trang 23 - 31)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(105 trang)