Những rào cản cản trở việc mở rộng ứng dụng thực hành CSA ở MNPB

Một phần của tài liệu Nông lâm kết hợp giải pháp cho nông nghiệp thông minh với khí hậu vùng miền núi phía Bắc (Tài liệu tập huấn dùng để tập huấn TOT cho cán bộ nông, lâm nghiệp miền núi phía Bắc) (Trang 31 - 35)

(1) Tăng chi phí về công lao động và vật tư nông nghiệp, và những rủi ro khi ứng dụng các thực hành CSA, nhất là trong thời gian đầu;

(2) Sự phức tạp và khó ứng dụng của các kỹ thuật đối với nông dân;

(3) Qui mô sản xuất nhỏ, lẻ và khó khăn của nông dân trong việc tiếp cận thị trường để mua vật tư, thiết bị sản xuất và để bán sản phẩm cây trồng, vật nuôi;

22 Phạm Thị Sến, 2015. Ứng dụng thực hành nông nghiệp ứng phó biến đổi khí hậu ở Tây Bắc:Thực trạng, khó khăn và đề xuất giải pháp khắc phụ. Trong “Nông nghiệp Tây Bắc: Nhận diện Thách thức và định hướng phát triển trong bối cảnh BĐKH” do PanNature xuất bản năm 2017

24 (4) Một số vấn đề liên quan tới quản lý tài nguyên thiên nhiên, đất đai và tài sản chung

khác; và những cản trở liên quan tới văn hóa, truyền thống của cộng đồng.

II.2.1. Tăng chi phí lao động, vật tư nông nghiệp và rủi ro trong thời gian đầu ứng dụng các thực hành CSA

Tăng chi phí đầu tư, nhất là về công lao động, và tăng nguy cơ rủi ro là một trong những nguyên nhân chính làm nông dân không sẵn sàng đón nhận và ứng dụng các kỹ thuật CSA.

Hầu hết các kỹ thuật CSA đòi hỏi đầu tư nhiều hơn về công lao động so với canh tác theo lối truyền thống23. Chẳng hạn, đối với các kỹ thuật canh tác trên đất dốc như che phủ đất, trồng xen, hay tạo tiểu bậc thang, một lượng đáng kể công lao động cần phải được đầu tư cho việc thu thập và quản lý vật liệu che phủ, hoặc để trồng và chăm sóc cây trồng xen, hay để kiến tạo vào duy trì tiểu bậc thang.

Mặt khác, thông thường, các thực hành CSA cũng đòi hỏi chi phí cao hơn cho một số vật tư và thiết bị sản xuất20. Chẳng hạn, khi ứng dụng kỹ thuật che phủ đất bằng tàn dư thực vật, diễn biến sâu bệnh hại trong giai đoạn đầu thường phức tạp, đòi hỏi chi phí cao hơn cho thuốc và công lao động bảo vệ thực vật so với cách làm thông thường. Tương tự, đối với kỹ thuật trồng xen, cần đầu tư thêm phân bón và thuốc bảo vệ thực vật cho các loại cây trồng xen. Trong khi đó, những tác động tích cực của các thực hành CSA đối với sinh trưởng, phát

23Phạm Thị Sến và ctv, 2015. Kết quả nghiên cứu thúc đẩy ứng dụng thực hành sử dụng đất bền vững trong hệ thống canh tác với ngô là cây trồng chính trên đất dốc vùng Tây Bắc. Trong “Kỷ yếu nghiên cứu khoa học của Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, 2006 – 2010”.

25 triển của cây trồng, vật nuôi và trong việc bảo vệ đất, bảo vệ nước thường chỉ có thể được ghi nhận rõ ràng sau một số năm ứng dụng. Vì vậy, ứng dụng nhiều thực hành CSA làm gia tăng nguy cơ rủi ro, giảm năng suất và giảm thu nhập ở những năm đầu khi mới ứng dụng kỹ thuật (Hình 2.2).

II.2.2. Sự phức tạp và mức độ khó ứng dụng của kỹ thuật đối với nông dân Nhiều gói kỹ thuật CSA gồm nhiều công đoạn phức tạp, đòi hỏi người ứng dụng phải có kinh nghiệm và trình độ nhất định, trong khi nông dân ở nhiều nơi MNPB còn hạn chế về trình độ và nhận thức. Chẳng hạn như đối với IPM hoặc ICM, rất khó để nông dân xác định được ngưỡng kinh tế của sâu bệnh hại, hoặc xác định giống phù hợp và tìm mua được hạt hoặc giống cây chất lượng. Hoặc, đối với các hệ thống nông lâm kết hợp, việc lựa chọn những loại và giống cây trồng thích hợp, và đặc biệt là việc thiết kế và tạo lập hệ thống thích hợp với điều kiện cụ thể về đất, nước và khí hậu của từng khu vực, khu nương, ruộng là rất khó24. Mặt khác, để ứng dụng một số kỹ thuật đòi hỏi cần có những điều kiện hạ tầng cơ sở nhất định. Ví dụ, để ứng dụng SRI ruộng canh tác phải thật bằng phẳng và có hệ thống tưới tiêu cũng như nguồn nước tưới đầy đủ để nông dân có thể chủ động điều tiết mực nước trong ruộng lúa theo yêu cầu, trong khi hầu hết các diện tích canh tác lúa ở vùng miền núi phía Bắc chưa đạt được các yêu cầu này.

II.2.3. Qui mô sản xuất nhỏ lẻ và khó khăn trong tiếp cận thị trường

(1) Khó khăn trong việc tiếp cận thị trường vật tư nông nghiệp là một trong những rào cản phổ biến cản trở nông dân vùng miền núi phía Bắc ứng dụng tiến bộ KHKT nói chung và các kỹ thuật, thực hành CSA nói riêng. Chẳng hạn, đối với kỹ thuật sử dụng phân nén dúi sâu, khó khăn trong việc tìm nguồn cung cấp phân nén đã khiến cho phạm vi áp dụng kỹ thuật này còn rất hạn chế. Đối với kỹ thuật che phủ, làm đất tối thiểu, thì các công cụ hỗ trợ tra hạt dưới lớp phủ hiện gần như không có trên thị trường vật tư nông nghiệp ở các tỉnh miền núi phía Bắc, điều này khiến cho việc tiếp nhận và mở rộng phạm vi áp dụng kỹ thuật gặp nhiều khó khăn25.

(2) Khó khăn trong tiếp cận thị trường tiêu thụ sản phẩm là một rào cản lớn nữa trong việc nhân rộng áp dụng kỹ thuật CSA. Do diện tích đất sản xuất nhỏ lẻ và phân mảnh, lượng nông

24 Phạm Thị Sến, 2015. Tổng quan về nông lâm kết hợp ở Việt Nam. Báo cáo trình bày tại hội thảo

“Agroforestry: the way forward”, 2015, New Delhi, India

25Phạm Thị Sến, 2017. Moc Chau vegetable farmers’ use of data-aided decision-making, traceability, quality assurance, and access to higher value markets. Báo cáo trình bày tại Hội nghị thường niên của CrowFord Fund, tại Úc, năm 2017.

26 sản của từng nông hộ cũng rất nhỏ, và từng nông hộ nhỏ lẻ không thể tiếp cận những thị trường lớn để bán sản phẩm24.

(3) Hạn chế về khả năng tiếp cận thông tin của các nông hộ cũng là một rào cản. Hiện nay, nông dân gần như phụ thuộc hoàn toàn vào thương lái và người thu gom trung gian, họ không có cơ hội và khả năng thương thuyết, thỏa thuận về giá cũng như về hình thức mua vật tư và bán nông sản. Về kỹ thuật sản xuất nói chung, và các thực hành CSA nói riêng, cũng chưa có nhiều nguồn thông tin dễ hiểu, dễ tiếp cận cho đông đảo nông dân MNPB.

II.2.4. Các vấn đề liên quan tới quản lý đất đai, tài sản chung của cộng đồng và một số vấn đề khác

(1) Quản lý và sử dụng đất: Diện tích đất sản xuất nhỏ và manh mún có thể khiến cho việc ứng dụng các kỹ thuật CSA gặp nhiều khó khăn và không phát huy được hiệu quả. Thông thường, đất canh tác của các nông hộ nằm rải rác thay vì tập trung tại một khu vực nhất định.

Một khu vực sườn đồi thường được chia thành các thửa nương nhỏ thuộc sở hữu của nhiều nông hộ khác nhau. Đối với các kỹ thuật canh tác bền vững trên đất dốc như kỹ thuật che phủ, trồng cây theo đường đồng mức hay tiểu bậc thang, và nhất là NLKH, nếu không được áp dụng đồng bộ trên toàn bộ khu vực nương đồi thì hiệu quả mang lại sẽ không đáng kể. Đối với các gói kỹ thuật thâm canh lúa bền vững (ICM, IPM, SRI) cũng vậy, chỉ khi được ứng dụng đồng bộ trên khu vực đất canh tác rộng lớn, hoặc tốt nhất là ở cấp cộng đồng, mới đem lại hiệu quả. Trong khi đó, việc thống nhất sử dụng một biện pháp canh tác trên một khu vực đất canh tác lớn (thường bao gồm nhiều các thửa nương nhỏ của nhiều hộ) cần sự thống nhất tham gia của nhiều nông hộ. Điều này hiện rất khó thực hiện, do khác biệt về nhận thức, khả năng đầu tư và nhu cầu, mong muốn khác nhau của các nông hộ.

(2) Quản lý tài sản chung của cộng đồng: Hiện nay, đa số cộng đồng nông dân chưa có cơ chế quản lý tài sản chung của cộng đồng, như tài nguyên rừng và nguồn nước, và đây cũng là một rào cản quan trọng cản trở việc mở rộng ứng dụng các kỹ thuật, thực hành CSA. Chẳng hạn như, để các gói kỹ thuật IPM, SRI, ICM được ứng dụng thành công cho sản xuất lúa, đòi hỏi nhiều hoạt động tập thể ở qui mô lớn để điều tiết và sử dụng nguồn nước và hệ thống tưới tiêu, và điều này nằm ngoài khả năng của các nông hộ riêng rẽ.

(3) Tiếng nói, văn hóa, tập quán, và thói quen của nông dân: Một số phong tục/tập quán, hương ước hay quy ước của địa phương, và nhất là thói quen của nông dân cũng có thể cản trở việc mở rộng ứng dụng các kỹ thuật CSA. Mặt khác, đối với nhiều cộng đồng và nông dân dân tộc thiểu số, rào cản về ngôn ngữ cũng cản trở đáng kể việc họ tiếp cận thông tin, hiểu và ứng dụng những kỹ thuật mới, nhất là đối với những người có tuổi.

Một phần của tài liệu Nông lâm kết hợp giải pháp cho nông nghiệp thông minh với khí hậu vùng miền núi phía Bắc (Tài liệu tập huấn dùng để tập huấn TOT cho cán bộ nông, lâm nghiệp miền núi phía Bắc) (Trang 31 - 35)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(105 trang)