PHẦN V Phát triển liên kết thị trường
V.2. Đặc điểm của chuỗi giá trị nông sản miền núi phía Bắc và sự cần thiết phải phát triển liên kết nông dân - nông dân
Mục tiêu của hầu hết nông dân ngày nay là sản xuất và bán được sản phẩm để có thu nhập, phát triển kinh tế hộ. Tuy vậy, nông dân ở MNPB thường có quy mô sản xuất nhỏ, lẻ và manh mún, nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm.
Theo IPSARD50, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người của nước ta hiện đạt khoảng 0,07 ha; Con số này chỉ bằng 1/4 so với Thái Lan (khoảng 0,27 ha) và bằng khoảng 1/3 diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người của thế giới (0,2 ha). Nghiên cứu của IPSARD cũng chỉ ra rằng, trên 70% thửa đất sản xuất nông nghiệp của Việt Nam có diện tích nhỏ hơn 0,5 ha. Riêng ở MNPB đất sản xuất nông nghiệp còn nhỏ, lẻ và manh mún hơn nữa, tuy bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người ở khu vực này đạt 0,13 ha, lớn hơn bình quân của cả nước. Do địa hình đồi núi dốc, bị chia cắt nhiều, đất nông nghiệp của mỗi nông hộ MNPB cũng bị chia cắt thành những thửa nhỏ (bình quân hơn 3 thửa/nông hộ), nằm ở các vị trí cách xa nhau51.
Do diện tích đất sản xuất nhỏ, lẻ và manh mún, từng nông hộ riêng lẻ ở MNPB hầu như không thể sản xuất được đủ lượng sản phẩm để tiếp cận các thị trường lớn. Mặt khác, để đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng hàng hóa, thì việc từng hộ sản xuất nhỏ lẻ trên các ô, thửa đất nhỏ lẻ, tách rời nhau, theo các kỹ thuật và lịch gieo, trồng, thu hái khác nhau cũng hầu như là không thể. Điều này làm cho việc bán, tiêu thụ sản phẩm của nông dân gặp rất nhiều khó khăn; phải qua nhiều khâu trung gian (các nhà thu gom nhỏ, thu gom lớn v.v.) sản phẩm của nông dân MNPB mới tới được tay người tiêu dùng hoặc các nhà chế biến lớn (Sơ đồ 5.1, và 5.2a). Điều này làm cho giá bán nông sản của nông dân thường rất bấp bênh, thấp và thu nhập của họ cũng thấp.
Vì vậy, để nông dân MNPB có thể đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng, khối lượng sản phẩm và có thể liên kết được với các thị trường tiêu thụ lớn, họ cần liên kết lại với nhau, cùng thực hiện sản xuất và bán sản phẩm theo các kế hoạch chung, cùng tuân thủ các quy trình kỹ thuật phù hợp. Liên kết nông dân - nông dân đã và đang được phát triển dưới nhiều hình thức và đã chứng tỏ được vai trò quan trọng trong việc phát triển sản xuất hàng hóa nông nghiệp, giúp các nông hộ nhỏ bán được nông sản, cải thiện được thu nhập và điều kiện sống. Khi liên kết cùng nhau, nông dân có thể dễ dàng thực hiện các hoạt động tập thể, như lập và thực hiện các kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, kế hoạch mua sắm vật tư và tiếp cận kỹ thuật sản
50http://kinhtedothi.vn/so-huu-dat-nong-nghiep-cua-viet-nam-chi-bang-14-thai-lan-328672.html
51https://nhandan.com.vn/tin-tuc-kinh-te/tai-co-cau-nong-nghiep-cac-tinh-trung-du-mien-nui-phia-bac-196328
79 xuất, tiếp cận các dịch vụ khuyến nông v.v. Điều này giúp họ hạ được giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm và có thể dễ dàng tiếp cận các thị trường lớn.
Sơ đồ 5.1 (ví dụ): Chuỗi giá trị mận chín huyện Mộc Châu và Vân Hồ, tỉnh Sơn La (Nguồn: Dự án AGB/2017/036)
Trong bối cảnh ngày càng gia tăng của những áp lực cạnh tranh về chất lượng và về tính ổn định của các mặt hàng nông sản tại hầu hết các thị trường, cũng như nhu cầu gia tăng về phát triển kinh tế hộ, liên kết giữa nông dân càng trở nên cần thiết. Đặc biệt, như đã thảo luận ở phần II, việc mở rộng ứng dụng những thực hành canh tác bền vững, bao gồm cả những thực hành CSA và những hệ thống CSA/NLKH ở MNPB chỉ có thể thành công và hiệu quả khi nhiều nông hộ cùng ứng dụng trên một khu vực đất sản xuất đủ lớn.
Như vậy, trong bối cảnh hiện nay, chỉ khi liên kết cùng nhau thực hiện các hoạt động tập thể, các nông hộ nhỏ mới có thể tạo thành một tập thể lớn, có sức sản xuất lớn, tạo ra những sản phẩm đạt các tiêu chuẩn về chất lượng và khối lượng, đáp ứng yêu cầu ngày càng nghiêm khắc của thị trường. Đồng thời, cũng chỉ khi liên kết cùng nhau họ mới có thể ứng dụng hiệu quả những thực hành và hệ thống sản xuất bền vững, bảo vệ được tài nguyên đất, tài nguyên nước và môi trường sinh thái, ứng phó BĐKH.
Khi nhiều nông hộ sản xuất nhỏ liên kết cùng nhau thành các THT hay HTX, khi đó, THT/HTX sẽ đại diện, làm đầu mối thay các nông hộ này bán trực tiếp nông sản (với khối lượng đủ từ các hộ thành viên THT/HTX) cho các cơ sở chế biến hoặc bán lẻ. Điều này sẽ giúp cắt giảm được một số khâu trung gian, rút ngắn khoảng cách từ người sản xuất (THT/HTX) tới doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm (so sánh Sơ đồ V.2a và Sơ đồ V.2b).
Nông dân sản xuất mận chín
80 Chuỗi giá trị nông sản rút ngắn này hoạt động theo các hợp đồng hợp tác (hợp đồng liên kết), gồm liên kết nông dân với nông dân thành các THT hay HTX (có thể gọi là liên kết ngang) và liên kết giữa THT hay HTX với các doanh nghiệp (có thể gọi là liên kết dọc).
Nếu coi liên kết nông dân - nông dân trong một THT hay HTX (liên kết ngang) là yếu tố
“đẩy”, thì liên kết giữa THT hay HTX với doanh nghiệp để tiêu thụ sản phẩm (liên kết dọc) là yếu tố “kéo” thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị. Như vậy có thể thấy, liên kết ngang chỉ có ý nghĩa khi liên kết kéo được phát triển.
Các hình thức liên kết nông dân phổ biến hiện này gồm tổ hợp tác (THT) và hợp tác xã (HTX). Trong đó, chỉ HTX có tư cách pháp nhân, được phép đăng ký kinh doanh, có tài khoản riêng. Vì thế, việc phát triển thành HTX thường là mong muốn của các nhóm nông dân. Tuy nhiên, các nhóm nông dân ngay khi mới hình thành hầu như không có đủ điều kiện để thành lập HTX, và vì thế, thường hoạt động theo hình thức THT cho tới khi đủ điều kiện thành lập HTX.
81 Các hướng dẫn thành lập HTX và các quy định về hoạt động HTX được quy định đầy đủ trong Luật Hợp tác xã. Vì vậy, tài liệu này chỉ thảo luận về việc phát triển hình thức liên kết THT.