PHẦN III Nông lâm kết hợp - một giải pháp của CSA ở miền núi phía Bắc
III.2. Một số thực hành, hệ thống CSA/NLKH tiềm năng phù hợp cho MNPB
Ở Việt Nam, vườn là một trong những phương thức nông lâm kết hợp truyền thống rất phổ biến, có thể tìm thấy ở mọi miền đất nước. Trước đây, vườn tạp được phát triển, chủ yếu trong khuôn viên nhà ở, bởi hầu hết các hộ dân ở các vùng đồng bằng và rất nhiều hộ ở vùng trung du và miền núi để lấy gỗ, lương thực, thức ăn chăn nuôi, thảo dược và củi đốt dùng cho nhu cầu trong gia đình. Ngày nay, vườn tạp được phát triển cả ở khuôn viên nhà ở và ở đất
42 đồi, đất ruộng tại hầu hết các làng bản trong cả nước, thường với quy mô lớn hơn, nhưng lại có mức độ đa dạng sinh học thấp hơn, đặc biệt là khi sản xuất hướng tới mục tiêu thương mại.
Thông thường, trong một vườn tạp truyền thống thường có những thành phần chính sau:
- Cây lâm nghiệp cho gỗ: xoan, bạch đàn, thông, tre và các loại cây ăn quả; Giống và chủng loại tuỳ vào các điều kiện khí hậu và đất đai và sở thích cũng như mục đích sử dụng của nông hộ.
- Cây trồng nông nghiệp: cây lâu năm (cây ăn quả, chè, cà phê) cây thường niên: (ngô, đậu, kê, cây có củ, cây gia vị.... Chủng loại và giống tuỳ thuộc vào điều kiện khí hậu địa phương và nhu cầu, sở thích của nông hộ. Ngoài ra, cũng có thể kết hợp trồng xen cây thuốc, đặc biệt là các cây ưa bóng như gừng, lá lốt, ngải cứu vv, cây cảnh, và/hoặc ong mật, gia cầm45.
Một kiểu vườn tạp truyền thống (ảnh: Hòa Bình, 10/2008, Phạm Thị Sến)
Ngày nay, với nhu cầu phát triển sản xuất hàng hóa, tính đa dạng của vườn giảm đi, các cây trồng được thâm canh để cho năng suất và thu nhập tăng. Tuy vậy, để các vườn hộ là những hệ thống CSA/NLKH cần đảm bảo thiết kế của vườn đáp ứng các đòi hỏi ở mục III.2.1. Cụ thể, cần đảm bảo:
45 Phạm Thị Sến, 2015. Báo cáo trình bày tại hội thảo “Nông lâm kết hợp: con đường phía trước”, được tổ chức tại New Delhi, Ấn Độ, 8-10 / 10 / 2015.
43 - Thành phần cây gỗ lâm nghiệp: Thông thường được hiểu là bao gồm các cây gỗ lâm
nghiệp phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai, có chu kỳ sinh trưởng càng lâu năm càng tốt, được trồng với số lượng đủ lớn, mật độ phù hợp để tăng khả năng tích tụ các bon, giúp bảo vệ đất, giữ nước và hỗ trợ các cây nông nghiệp phát triển tốt. Ngày nay, theo cách hiểu mở rộng hơn, có thể thay cây gỗ lâm nghiệp bằng những cây thân gỗ nông nghiệp hoặc công nghiệp lâu năm phù hợp (như một số loại cây ăn quả, hoặc chè). Nhưng các cây này phải được lựa chọn và trồng, chăm sóc theo các quy trình kỹ thuật phù hợp để có số lượng, mật độ và sinh khối cũng như bộ rễ đủ để có tác động sinh thái tương như các cây gỗ lâm nghiệp.
- Thành phần cây nông nghiệp: Các cây nông nghiệp cần được trồng và quản lý theo các kỹ thuật bền vững, như ICM, IPM, hữu cơ, sinh thái, VietGAP... và tuân thủ các nguyên lý bảo vệ đất, giữ màu, giữ nước, giảm tác động không tốt môi trường.
(2) Kết hợp vườn-ao-chuồng (VAC) theo hướng bền vững
VAC là hệ thống canh tác tổng hợp. Để phát triển hệ thống này cần diện tích đất rộng hơn hệ thống vườn ở trên. Trước đây, VAC đặc biệt phổ biến ở vùng đồng bằng, nơi có thể đào ao để vừa nuôi trồng thủy sản, vừa trữ nước tưới cho cây trồng vào mùa khô.
VAC là hệ sinh thái khép kín. Trong một hệ thống VAC, các thành phần (cây cối và vật nuôi) cùng tồn tại và tác động qua lại mật thiết lẫn nhau và với môi trường xung quanh dưới tác động của người sản xuất – chủ vườn (Hình 2)46.
Hình 3.1:
Mối tương tác giữa các thành phần trong hệ thống VAC
46Ngô Thế Dân, Hệ sinh thái VAC. Trong “Bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật vườn gia đình ở nông thôn miền Bắc Việt Nam” (Phạm Thị Sến và cs. ed.)., p. 150 - 155.
V
A C
Con người
44 Những thành phần chính của VAC:
- Trồng trọt (Vườn): Trong hệ thống VAC yếu tố vườn tương tự như trong hệ thống vườn tạp nói trên.
- Nuôi trồng thuỷ sản (Ao): Mỗi hệ thống VAC đều có một hoặc vài ao được đào ở giữa vườn hoặc một bên mép của khu vườn để (i) nuôi trồng thuỷ sản (cá, tôm, rùa, các loài lưỡng cư); (ii) dự trữ nước; và (iii) trồng cây (khoai nước, bèo tấm, mướp,…).
- Chăn nuôi (Chuồng): Trâu, bò, lợn, gà, thỏ,… thường được lựa chọn tuỳ vào điều kiện khí hậu cụ thể và cơ sở vật chất, mục đính sử dụng của hộ gia đình. Ong mật cũng có thể được nuôi. Chuồng trại được xây dựng ở những nơi phù hợp.
Ngày nay, với nhu cầu phát triển sản xuất hàng hóa, các cây trồng được thâm canh để cho năng suất và thu nhập tăng, đồng thời thủy sản và gia súc, gia cầm cũng thường được nuôi thâm canh. Để VAC có vai trò như những hệ thống CSA/NLKH, việc thiết kế và thực hành nuôi trồng các cây, con trong hệ thống cần đảm bảo đáp ứng các đòi hỏi ở mục III.2.1. Cụ thể, phải đảm bảo:
- Vườn phải bao gồm nhiều loại cây lâu năm và cây thường niên, được trồng xen kẽ, tạo thành nhiều tầng, sao cho các cây đều có thể hấp thụ ánh sáng và chất dinh dưỡng để sinh trưởng và cho sản lượng, hiệu quả kinh tế cao, đồng thời phải tạo tác động về sinh thái tương tự hệ sinh thái rừng, để hệ thống cho hiệu quả kinh tế cao, đồng thời có khả năng tích tụ các bon và thích ứng BĐKH tốt hơn.
- Các cây nông nghiệp, thủy sản và gia súc, gia cầm phải được bố trí nuôi trồng theo mật độ và kỹ thuật bền vững phù hợp và tuân thủ các nguyên lý bảo vệ đất, giữ màu, giữ nước, giảm tác động không tốt môi trường và đồng thời gia tăng lợi ích kinh tế;
- Rác thải chăn nuôi và các phế phụ phẩm nông nghiệp được xử lý và quay vòng, bằng các kỹ thuật phù hợp như hệ thống biogas cải tiến, hoặc các kỹ thuật khác (nuôi giun quế, ủ phân compost...).
(3) Kết hợp rừng-vườn-ao-chuồng (RVAC) theo hướng bền vững
RVAC thực chất là hệ thống VAC có thêm thành phần rừng. Để phát triển các hệ thống RVAC cần diện tích đất lớn, và vì vậy thường phù hợp hơn ở các vùng nông thôn có quy mô nông hộ và ô thửa lớn, như các vùng đồi núi, vùng cát ven biển.
Các thành phần của RVAC:
- Rừng (R): Ở đất đồi núi dốc, rừng thường được bố trí trên đỉnh đồi, có thể gồm rừng tái sinh hoặc rừng trồng, có thể chỉ có cây rừng, hoặc cây rừng xen cây nông nghiệp,
45 cây thuốc, hoặc cả gia súc, gia cầm. Phần lớn cây trong rừng trồng là keo, thông, cao su, quế, tre, phi lao, bạch đàn,… Cây trồng xen thường là những cây dược liệu hoặc một số cây trồng hàng năm (phần lớn là ngô, sắn và đậu), và đôi khi có cả cây ăn quả (chuối, na, sầu riêng,…) và cây công nghiệp lâu năm (chè, cà phê,…), tuỳ vào điều kiện khí hậu, đất đai, nhu cầu thị trường và mục đích sử dụng của nông dân.
- Vườn, ao và chuồng: tương tự như với hệ thống VAC đã trình bày ở trên.
Một hệ thống RVACRg (ảnh: Điện Biên, 5/2021, Phạm Thị Sến)
Tuy nhiên, ngoài việc lựa chọn các loại, cây con phù hợp và nuôi trồng chúng theo những mật độ và kỹ thuật bền vững, phù hợp như đối với các hệ thống vườn gia đình và VAC nói trên, để một hệ thống RVAC trên đất đồi núi dốc có ý nghĩa trong việc ứng phó BĐKH và bảo vệ, quản lý đất bền vững, thì thiết kế của hệ thống phải tuân thủ các quy định của chính phủ trong Quy phạm thiết kế nương đồi, ngày 17/7/1971 của Uỷ ban Nông nghiệp trung ương và Chỉ thị số 15-TTg, ngày 15/2/1964, về chống xói mòn, giữ đất, giữ nước, giữ màu của Thủ tướng Chính phủ. Cụ thể:
- Diện tích rừng ở phía trên đỉnh đủ lớn (theo quy định của chính phủ phải bằng 7 - 12% diện tích cả quả đồi);
- Cần có các băng đai rừng theo các đường đồng mức ở trên sườn dốc (nếu độ cao của sườn dốc từ 150 mét trở lên), và băng đai rừng ở chân dốc;
- Cần lựa chọn các cây rừng có bộ rễ ăn sâu và được trồng với mật độ đủ dày để có thể giữ đất, giữ nước.
46 (4) Kết hợp rừng-nương-vườn (RNV) hoặc rừng-nương-vườn-ruộng (RNVRg)
Hệ thống này có thể kết hợp hoặc không kết hợp chăn nuôi gia súc và/hoặc nuôi trồng thủy sản (tức có thế có thêm thành phần chuông và/hoặc ao). Những hệ thống này chủ yếu được ứng dụng ở vùng Đông Bắc, Tây Bắc và Tây Nguyên bởi những hộ có diện tích đất lớn (từ vài hecta) trên cùng một sườn đồi hoặc cả ngọn đồi. Thiết kế và các loại, giống cây trồng của hệ thống này rất đa dạng, tuỳ thuộc vào đặc điểm khí hậu, đất đai và địa hình của các địa phương và sở thích cũng như mục đích sử dụng của nông dân.
Một hệ thống NLKH gồm rừng, nương, vườn (ảnh: Yên Bái, 9/2017, Phạm Thị Sến)
Các thành phần chính của hệ thống rừng-nương-vườn (RNV):
- Rừng trồng hoặc rừng tái sinh, ở trên cùng. Rừng trồng chủ yếu là các cây thông, keo, quế, hồi, trẩu, mộc lan, táo mèo, tre, nứa…. Đôi khi, các cây lấy gỗ cũng được trồng ở sườn đồi hay dọc theo những đường ranh giới giữa ô nương hay đường phân chia đất giữa các nông hộ.
- Nương, ở dưới rừng, có hoặc không có bậc thang, được sử dụng để sản xuất lương thực. Những khu bậc thang được dùng để trồng lúa nước (chủ yếu nhờ nước trời).
Những khu không có bậc thang dùng để trồng các cây trồng cạn (chủ yếu là ngô, lúa nương và sắn). Các cây lương thực có thể được trồng độc canh hoặc xen canh (cùng với đậu, bí ngô, rau xanh, cây ăn quả). Nông dân cũng thường ứng dụng những phương pháp khác nhau (hàng rào xanh, rào bằng đá, rào bằng băng cỏ) để bảo vệ đất khỏi bị xói mòn.
47 - Vườn thường có kích thước nhỏ, ở phía chân, gần với nhà ở. Trong vườn đa dạng các
loại cây khác nhau được trồng để đáp ứng mục đích sử dụng trong gia đình hoặc thương mại của người sản xuất. Các cây trồng phổ biến ở MNPB thường là chè, đậu, rau xanh, cây thuốc, chuối và các loại cây ăn quả khác.
Trong hệ thống rừng-nương-vườn-ruộng (RNVRg), ngoài 3 thành phần trên, ở phía dưới là đất bằng (đất ruộng) để sản xuất lúa nước.
Trong cả hệ thống RNV và RNVRg, đều còn có thể kết hợp chăn thả các loại vật nuôi (ong mật, ngan, gà, lợn, trâu, bò) dưới tán cây trong vườn hoặc trong rừng. Cũng có thể có thêm thành phần ao để nuôi trồng thủy sản.
Để hệ thống rừng-nương-vườn có vai trò như những thực hành, hệ thống CSA/NLKH ngoài việc ứng dụng các kỹ thuật và chăm sóc cây con bền vững, như ICM, IPM, hữu cơ, VietGAP…, thiết kế của những hệ thống này cần tuân thủ những quy định của chính phủ trong Quy phạm thiết kế nương đồi, ngày17/7/1971 của Uỷ ban Nông nghiệp trung ương và Chỉ thị số 15-TTg, ngày 15/2/1964, về chống xói mòn, giữ đất, giữ nước, giữ màu của Thủ tướng Chính phủ và các quy định khác về bảo vệ, quản lý rừng và TNTN.
(5) Trồng xen cây nông nghiệp, cây dược liệu dưới tán rừng tái sinh
Phương thức này thường được ứng dụng tại các vùng đất đồi núi dốc tại miền Bắc và miền Trung Việt Nam. Do phần lớn những vùng rừng tái sinh đều có mật độ cây thưa, rừng nghèo, nông dân có thể xen canh những loại cây khác nhau để thêm thu nhập. Cây nông nghiệp xen canh có thể bao gồm cây lâu năm (các loại ăn quả như chuối, dứa, cây công nghiệp lâu năm như chè) và cây hàng năm (khoai lang, khoai sọ, ngô, sắn, đậu đỗ vv). Cũng có thể bổ sung một số loại cây dược liệu ưa bóng như ba kích, đằng sâm, sa nhân, nghệ, gừng...
Để các hệ thống này có tác động như những hệ thống CSA/NLKH cần:
- Lựa chọn các cây trồng xen phù hợp với điều kiện của khu rừng tái sinh;
- Trồng và chăm sóc các cây trồng xen theo mật độ và theo các quy trình bền vững, hạn chế xói mòn, rửa trôi đất;
- Không để việc trồng xen ảnh hưởng tới sự sinh trưởng, phát triển của cây rừng và phải tạo điều kiện cho rừng tái sinh.
(6) Xen canh cây nông nghiệp trong rừng trồng (hệ thống taungya)
Hình thức này được ứng dụng trên các sườn đồi, chủ yếu ở vùng Đông Bắc, Tây Bắc. Thông thường, cây trồng rừng thường là keo, bạch đàn, quế, hồi, mộc lan, cao su, tre, nứa. Cây nông nghiệp có thể gồm cây lâu năm (cam quýt, chuối, xoài, vải, nhãn), cây công nghiệp (chè, cà phê) và cây ngắn ngày (đậu, lúa cạn, sắn, khoai lang, ngô v.v.).
48 Việc trồng xen có thể:
- Xen về không gian: theo lô hoặc theo hàng;
- Xen về thời gian: Sau khi thu hoạch rừng trồng .
Để hệ thống xen canh này là những hệ thống CSA/NLKH, cần:
- Lựa chọn các cây lâm nghiệp và câu nông nghiệp phù hợp với điều kiện của khu đất;
- Trồng và chăm sóc các cây trồng xen theo mật độ và theo các quy trình bền vững tuân thủ các quy định bảo vệ màu, giữ đất, giữ nước;
- Không để việc trồng xen ảnh hưởng tới sự sinh trưởng, phát triển của cây lâm nghiệp.
(7) Kết hợp chăn nuôi gia súc dưới tán rừng
Gà chăn thả dưới tán rừng thông (ảnh: Quảng Ninh, 11/2016, Phạm Thị Sến)
Theo truyền thống, nông dân thường chăn thả gà, lợn, bò, trâu, dê,… dưới tán cây rừng trồng hoặc rừng tái sinh. Ngày nay hệ thống này vẫn được áp dụng, nhưng ít hơn, ở các vùng cao, chủ yếu ở Đông Bắc, Tây Bắc và miền Trung. Nếu cỏ mọc tự nhiên trong rừng không đủ cho gia súc, nông dân có thể trồng thêm một số loại cỏ như ghine, ruzi, guatamela, và paspalum dưới tán cây hoặc ven rừng. Họ cũng có thể dựng chuồng hoặc không dựng chuồng cho gia súc, và cũng có thể kết hợp nuôi ong. Mục đích của hệ thống nâng cao hiệu quả chăn nuôi từ việc sử dụng nguồn thức ăn tự nhiên dưới tán rừng và trồng cỏ chăn nuôi dưới tán rừng để phát triển kinh tế hộ.
Để hệ thống này có những tác động như những hệ thống CSA/NLKH, cần đảm bảo:
49 - Chăn nuôi gia súc, gia cầm có kiểm soát, đảm bảo không ảnh hưởng đến sinh trưởng,
phát triển của cây cối;
- Chủ động trồng bổ sung thêm cỏ chăn nuôi dưới tán cây để có đủ thức ăn cho gia súc;
- Chăm sóc gia súc, gia cầm và cây trồng theo đúng các quy trình kỹ thuật bền vững (như ICM, IPM, hữu cơ, sinh thái…) để tăng năng suất, cải thiện chất lượng sản phẩm, đồng thời giảm ô nhiễm môi trường;
- Xử lý rác thải theo đúng quy trình kỹ thuật để giảm thiểu ô nhiễm tới môi trường và giảm phát thải KNK.
(8) Sử dụng cây có đa giá trị trồng che bóng cho cà phê và chè
Cây gỗ lâm nghiệp che bóng cho cà phê (ảnh: Sơn La, 7/2016, Phạm Thị Sến)
Chè và cà phê là những cây ưa ánh sáng tán xạ, yêu cầu cần được che bóng với tỷ lệ nhất định (khoảng 30%) để sinh trưởng và phát triển tốt. Đảm bảo tỷ lệ che bóng phù hợp sẽ giúp chè và cà phê phát triển tốt, cho năng suất tăng 10 - 15% và chất lượng sản phẩm cũng tốt hơn47,48.
Tuy vậy, cây che bóng thường gây khó khăn cho việc thu hoạch chè bằng máy. Đồng thời những cây được khuyến cáo sử dụng che bóng cho chè và cà phê ở MNPB phổ biến là muồng lá nhọn và keo dậu đều không tạo thêm nguồn thu nhập cho người sản xuất. Ở một số địa phương (như Tuyên Quang, Lào Cai và Yên Bái) xoan ta cũng được trồng vừa để che bóng cho chè, vừa để có thêm thu nhập từ sản phẩm gỗ xoan lấy gỗ, nhưng việc loại bỏ lá xoan
47http://baophutho.vn/kinh-te/nong-lam-nghiep/201507/trong-cay-che-bong-giup-cay-che-sinh-truong-tot-44078
48https://sonla.gov.vn/1288/30956/65352/566803/nghien-cuu-trao-doi/su-dung-cay-che-bong-giam-thieu-tac- hai-cua-suong-muoi-den-ca-phe-che-tai-son-la
50 rụng để không lẫn với búp chè lúc thu hoạch lại tốn nhiều công lao động. Vì những lý do này mà nông dân ở nhiều địa phương MNPB không muốn mở rộng ứng dụng thực hành này;
trong các năm qua cây che bóng ở nhiều diện tích chè đã bị chặt bỏ.
Để thuận lợi và thích hợp cho nông dân ứng dụng, và để thực hành trồng cây che bóng cho chè và cà phê trở thành một giải pháp của CSA, việc lựa chọn và trồng cây che bóng cần đáp ứng các yêu cầu sau đây:
- Cây che bóng không ảnh hưởng tới sinh trưởng và phát triển và năng suất, chất lượng của chè hoặc cà phê: lựa chọn cây phù hợp với điều kiện đất đai và khí hậu ở địa phương;
những cây có rễ sinh trưởng sâu và khỏe, chống đổ tốt; những cây có rễ và thân, lá không tiết ra bất cứ chất nào ảnh hưởng tới sinh trưởng và phát triển của chè hoặc cà phê; trồng ở mật độ thích hợp và thực hiện đốn tỉa, tạo tán mỗi khi cần thiết;
- Cây che bóng không làm gia tăng các vấn đề về sâu, bệnh hại: lựa chọn những cây không mẫn cảm với các loại sâu, bệnh; những cây không dẫn dụ sâu bệnh tới; và nếu có thể thì lựa chọn những cây có khả năng xua đuổi côn trùng và kháng các loại bệnh.
- Cây che bóng có thêm một số giá trị sử dụng khác, như:
o Giá trị về môi trường, sinh thái và bảo vệ, cải tạo đất, giúp giữ ẩm cho đất: lựa chọn những cây có bộ rễ khỏe, ăn sâu vào lòng đất; nếu có thể thì lựa chọn những cây có khả năng cải tạo đất như những cây có thể cố định đạm vv; và thiết kế trồng theo mật độ và khoảng cách phù hợp.
o Giúp cây trồng chống chịu tốt hơn với những điều kiện thời tiết cực đoan, như sương muối, nắng nóng và khô hạn: lựa chọn những cây có khả năng chịu nắng nóng, sương muối và trồng theo mật độ và khoảng cách phù hợp để có thể bảo vệ chè, cà phê khỏi bị hại bởi sương muối, nắng nóng và khô hạn;
o Tạo thêm nguồn thu cho nông dân: Lựa chọn những cây cho thu hoạch một số sản phẩm như gỗ (các cây gỗ lâm nghiệp), quả (một số cây ăn quả), nhựa (thông nhựa), hoặc tinh dầu (quế, hồi) v.v.
GHI NHỚ
1. Cần lựa chọn đúng các loại cây, loại con và nuôi trồng xen chúng theo những thiết kế và kỹ thuật phù hợp với điều kiện khí hậu, địa hình và tính chất, cấu trúc đất, để tạo ra tác động qua lại tích cực giữa các thành phần trong hệ thống NLKH, để tất cả các cây, các con chống chịu được tốt hơn các điều kiện bất lợi về thời tiết và sâu bệnh hại, và hệ thống tích tụ được nhiều các-bon và giảm được những tác động xấu tới môi trường, đồng thời mang lại lợi ích kinh tế cao hơn và bền vững cho người sản xuất.
2. Chỉ thị số 15-TTg, ngày 15/2/1964, về chống xói mòn, giữ đất, giữ nước, giữ màu của Thủ tướng chính phủ quy định: