CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.3. Chương trình giáo dục (đào tạo) và chương trình môn học
1.3.2. Chương trình môn học
Chương trình môn học là một phần trong chương trình đào tạo.
Chương trình (thuật ngữ bắt nguồn từ chương trình Latinh, đến lượt nó, có nguồn gốc từ một từ Hy Lạp) có nhiều nghĩa. Nó có thể được hiểu là sự tiến bộ của những gì được lên kế hoạch thực hiện trong một số lĩnh vực hoặc hoàn cảnh; chương trình nghị sự được đưa ra cho một bài phát biểu; việc trình bày và tổ chức các môn học của một khóa học hoặc môn học nhất định; và mô tả về các đặc điểm hoặc giai đoạn trong đó các hành vi hoặc chương trình nghệ thuật nhất định được tổ chức.
Chương trình là bản kê dự kiến công tác sẽ phải làm trong một thời gian, theo một trình tự nhất định.
Bản kê nội dung giảng dạy của từng môn học, trong từng lớp, từng cấp [122].
Theo Tim Wentling (1993) chương trình (CT) là một bản thiết kế t ổng thể cho một hoạt động đào tạo (ĐT), (chỉ có thể là một khóa ĐT kéo dài một vài giờ, một ngày, một tuần hoặc vài năm). Bản thiết kế t ổng thể đó cho ta biết nội
dung ĐT, nó cũng cho ta biết các phương pháp ĐT và các cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập và tất cả những cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ [117].
Theo Đại từ điển tiếng Việt, môn học là “Bộ phận gồm những tri thức về một khóa học, trong chương trình học tập nào đó”. Môn học là “Khối kiến thức và kỹ năng của một phần chương trình bộ môn cần dạy - học trong một học kỳ ở bậc đại học” [100].
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002), môn học là “Hệ thống (hoặc bộ phận tri thức) về một lĩnh vực khoa học được sắp xếp theo yêu cầu sư phạm để truyền thụ cho người học, mang các đặc điểm:
Phản ánh các sự kiện, tri thức, qui luật của khoa học tương ứng phù hợp với mục đích, nhiệm vụ dạy học và khả năng nhận thức của họ c sinh;
Các câu hỏi, bài tập v.v… giúp học sinh tự kiểm tra luyện tập kỹ năng, kỹ xảo. Môn học còn có những yêu cầu phát triển năng lực hoạt động trí tuệ và giáo dục, lô gíc của môn học không rập khuôn theo lô gíc khoa học tương ứng mà là sự thống nhất giữa lô gíc khoa học và lô gíc nhận thức chung của học sinh” [91].
Trong Đại từ điển tiếng Việt, chương trình môn học được giải thích là “Nội dung kiến thức và kỹ năng về một môn học ấn định cho từng lớp, cấp học trong từng năm học” [100].
Trong từ điển Giáo dục học, chương trình môn học là: “Văn bản Nhà nước qui định với từng môn học về mục tiêu, yêu cầu , nội dung, khối lượng kiến thức và kỹ năng, kế hoạch phân bổ, thời lượng cần thiết, phương pháp thích hợp, phương tiện tương ứng theo từng lớp học, bậc học. Chương trình bộ môn của mỗi lớp (năm) học được trình bày theo trình tự chương, mục, chủ đề, vấn đề song song với bảng phân bố thời lượng tương ứng”. Chương trình môn học là văn bản qui định mục tiêu, nội dung dạy học, phương pháp dạy và học, hình thức và phương pháp kiểm tra - đánh giá kết quả học tập cho một môn học hay một học phần [36].
Môn học (học phần) là một tập hợp hoạt động giảng dạy và học tập được thiết kế nhằm thực hiện một số mục tiêu học tập cụ thể, trang bị cho người học những
kiến thức, kỹ năng thuộc một phạm vi chuyên môn hẹp trong chương trình đào tạo.
Một học phần thông thường được tổ chức giảng dạy, học tập trong một học kỳ [72].
Môn học là khối kiến thức và kĩ năng của một phần chương trình bộ môn cần dạy học trong một học kỳ ở bậc đại học [89].
Như vậy, môn học là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho người học tích luỹ trong quá trình học tập. Môn học thường có thời lượng từ 2 - 4 tín chỉ, được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân phối đều trong một học kỳ.
Kiến thức trong mỗi môn học phải gắn với một mức trình độ của người học theo năm học thiết kế.
Dựa vào chế độ tích luỹ, môn học gồm 3 loại:
Môn học bắt buộc là môn học có chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của của ngành hoặc chuyên ngành đào tạo, các môn học này là cơ sở để tiếp thu và phát triển các kiến thức của các môn học kế tiếp có trong chương trình, và bắt buộc người học phải tích luỹ để được công nhận văn bằng.
Môn học tự chọn (lựa chọn có hướng dẫn) là môn học chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết nhưng người học được tự chọn theo hướng dẫn của cố vấn học tập, của nhà trường. Những môn học tự chọn có hướng dẫn là cơ sở định hướng hay mở rộng kiến thức cho chuyên ngành đào tạo.
Môn học chọn tuỳ ý là môn học có trong chương trình đào tạo do người học chọn theo sở thích, nhu cầu riêng của cá nhân người học, chỉ có giá trị mở rộng kiến thức của ngành hoặc chuyên ngành đào tạo và để tích luỹ đủ số tín chỉ quy định của chương trình.
Phân loại các môn học trong chương trình đào tạo dựa vào hình thức và tính chất nội dung, môn học gồm 3 loại sau:
Môn học lý thuyết là môn học giảng viên và sinh viên làm việc trên lớp, bao gồm thuyết trình, chữa bài tập, thảo luận (xemina), làm việc theo nhóm có giáo viên hướng dẫn.
Môn học thực hành là môn học phải làm thực hành, thí nghiệm hay tập luyện các động tác đối với hoạt động thể dục thể thao và nghệ thuật. Trong các môn này
sinh viên phải làm việc tương đối độc lập, phát huy tính sáng tạo để vận dụng những kiến thức tiếp thu được trong môn học lý thuyết vào thực hành thực nghiệm.
Môn học kết hợp lý thuyết và thực hành [16].
Phát triển chương trình môn học là sự xem xét, phân tích, điều chính, bổ sung,cập nhật, cải tiến chương trình để cho chương trình môn học hoàn thiện hơn, phù hợp với nhu cầu của người học, sở thích, đặc điểm tâm sinh lí của người học, đáp ứng được nhu cầu của xã hội [30], [120].
Quy trình phát triển chương trình môn học:
Bước 1: Phân tích tình hình
Phân tích nhu cầu về môn học là quá trình phân tích các yếu tố tác động đến việc xác định mục tiêu, cấu trúc và nội dung của chương trình môn học. Mục đích để nắm được thông tin của các bên liên quan về mức độ cần thiết, ý nghĩa, vai trò môn học trong chương trình đào tạo của ngành. Môn học này còn cần thiết cho ngành đào tạo? Môn học này hữu ích cho người học và giúp cho người học trong công việc tương lai?
Phân tích nhu cầu môn học để tìm ra những ưu điểm, hạn chế của môn học đó. Nhu cầu xã hội: Dựa trên sự phát triển kinh tế- xã hội, khoa học- công nghệ... của quốc gia, vùng miền để đưa ra chương trình môn học sao cho phù hợp với sự phát triển, nhu cầu của quốc gia, vùng miền.
Bước 2: Thiết kế
Mục tiêu: Dựa vào mục đích của môn học đã được tuyên bố, xác định mục tiêu của môn học. Mục tiêu về kiến thức, kỹ năng và thái độ phải phù hợp và gắn với nội dung, yêu cầu của môn học và mục tiêu chung của chương trình ngành đào tạo.
Thời gian: Tùy thuộc vào thời lượng học chung mà nhà trường quyết định, nội dung môn học, lớp học, đặc điểm nhận thức và khả năng của người học để phân bố số tiết học trên một năm, một tuần cho phù hợp.
Chuẩn đầu ra: dựa vào mục tiêu của môn học, cách tiếp cận của nhà trường để đưa ra chuẩn tối thiểu cần đạt của người học sau khi học xong môn học.
Nội dung: Việc lựa chọn nội dung cho môn học căn cứ vào mục tiêu môn học và các điều kiện thực thi của cơ sở đào tạo, khả năng của người học. Lựa chọn nội dung cho môn học cần đảm bảo tính tích hợp kiến thức chuyên môn, kỹ năng cá nhân, kỹ năng giao tiếp và phù hợp với chuẩn đầu ra của môn học.
Phương pháp: các phương pháp truyền thống và hiện đại, chú trọng việc coi người học làm trung tâm.
Cách thực hiện: dựa vào kế hoạch dạy học đã thiết kế để lên lớp cho phù hợp với quy định.
Cách đánh giá: đánh gia hoạt động giáo dục và hoạt động dạy học theo quy định của bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra, kết hợp người dạy và người học, đánh giá dựa vào sự tiến bộ của người học.
Bước 3: Thực hiên: Dựa vào bản kế hoạch đã thiết kế, người giáo dục, người dạy triển khai dạy học, giáo dục cho người học theo đúng bản kế hoạch, trong quá trình tiến hành, người dạy quan sát, đánh giá, xem xét, cập nhật, bổ sung và chỉnh sửa cho phù hợp với mục tiêu đề ra.
Bước 4: đánh giá: Dựa vào quá trình thực hiện và kết quả đầu ra của người học xem xét chương trình môn học có phù hợp với người học không, có hiệu quả hay không từ đó rút ra kinh nghiệm và bổ sung, điều chỉnh cho chương trình phù hợp hơn.
1.3.2.1. Quy trình thiết kế chương trình môn học
Xác định mục tiêu môn học: Xác định mục tiêu tóm tắt của môn học.
Xác định sự tương quan giữa môn học đang xét với các môn khác trong chuỗi các môn học của tổng thể chương trình nhằm xác định các môn tiên quyết, các môn nên được học trước cũng như các môn sẽ sử dụng kiến thức được giảng dạy ở môn đang xét. Mỗi môn học được xem như một hộp đen, chúng tôi sẽ xác định các môn phải học trước môn này để bảo đảm một số chuẩn đầu vào cho môn học đang xét và các môn sẽ thừa kế hay sử dụng các chuẩn đầu ra của môn học đang xét.
Xác định chuẩn đầu ra theo 3 phần: Kiến thức khoa học, kỹ thuật; Kỹ năng cá nhân và kỹ năng giao tiếp; Thái độ. Thông thường nội dung về kiến thức
khoa học, kỹ thuật mà sinh viên phải nắm được sau khi học xong môn học thì dễ xác định, nhưng các kỹ năng cần thiết phải đạt được cũng như các thái độ phải được xây dựng sẽ khó xác định hơn.
Xác định sự tương quan giữa các chuẩn đầu ra của môn học và chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo theo 3 tiêu chí: Sử dụng; Dạy; Giới thiệu.
Việc xác định sự tương quan giữa các chuẩn đầu ra của môn học với các chuẩn đầu ra của cả chương trình đào tạo để bảo đảm rằng chuỗi các môn học bảo đảm thực hiện được các chuẩn đầu ra của cả chương trình đào tạo và nó cũng giúp chúng ta phát hiện các bất thường của chương trình đào tạo như việc thiếu các môn học để bảo đảm đạt được một hoặc vài chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo. Xác định chính xác hơn thứ tự giảng dạy các môn trong chương trình cũng như sự (mức độ) đóng góp của các môn trong việc hình thành các chuẩn đầu ra. Xác định các phương pháp giảng dạy cho từng phần của môn học, các phương pháp đánh giá để bảo đảm thực hiện được các chuẩn đầu ra đã nêu của môn học. Phương pháp giảng dạy phải bảo đảm sự tích hợp được việc dạy các kỹ năng cá nhân, kỹ năng cộng đồng, hình thành thái độ vào việc dạy các kiến thức khoa học, kỹ thuật (nội dung chính của môn học).
Sơ đồ 1.2. Các bước xây dựng chương trình môn học Xác định mục tiêu
Môn tiên quyết, môn học sau
Xây dựng nội dung giảng dạy Xác định các chuẩn đầu ra của
môn học
Xác định sự tương quan giữa các chuẩn đầu ra của môn học với các chuẩn đầu ra của chương
trình đào tạo
Xây dựng các phương pháp giảng dạy và đánh giá
Cấu trúc của một chương trình môn học
Tên môn học: Tên của môn học sẽ được mô tả chi tiết.
Các môn tiên quyết: Các môn phải được dạy trước môn này.
Mục tiêu môn học: Mục tiêu tổng quát mà môn học cần đạt được.
Tiêu chuẩn đầu ra: Các tiêu chuẩn mà một sinh viên cần phải đạt được sau khi học môn này. So khớp với các chuẩn đầu ra liên quan của cả chương trình đào tạo.
Nội dung: Nội dung các phần, chương, bài của môn học.
Yêu cầu và cách đánh giá: Cách đánh giá sinh viên khi theo học môn này Tài liệu tham khảo chính: Tài liệu tham khảo chính cho môn học [58].
1.3.2.2. Chương trình môn học Giáo dục thể chất
Môn học Giáo dục thể chất được xem là môn học có nội dung chuyên biệt dạy vận động và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người.
Môn học được chia thành 2 mặt khác nhau đó là dạy học động tác và giáo dục các tố chất vận động.
Chương trình môn học GDTC mang tính tổng hợp bao gồm nhiều nội dung về thể dục, thể thao nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, hoàn thiện nhân cách, nâng cao khả năng học tập, kỹ năng hoạt động xã hội với tinh thần, thái độ tích cực, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện.
Chương trình môn học GDTC gồm:
Mục tiêu;
Khối lượng kiến thức;
Tổ chức xây dựng chương trình;
Thẩm định và ban hành chương trình;
Đánh giá kết quả học tập;
Tổ chức thực hiện chương trình [17].