Giáo dục thể chất và môn học Giáo dục thể chất trong trường Đại học và

Một phần của tài liệu Luan An Ma Thi Ngan.pdf (Trang 49 - 52)

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.4. Giáo dục thể chất và môn học Giáo dục thể chất trong trường Đại học và

Giáo dục thể chất là một bộ phận hữu cơ của giáo dục toàn diện nhằm tác động có hệ thống để phát triển những năng lực thể chất toàn diện cho người học.

Dạy học động tác và những hiểu biết có liên quan là nội dung cơ bản của GDTC.

Thực chất đó là dạy cho người học biết cách điều khiển vận động hợp lý, hình thành kĩ năng kĩ xảo vận động. Mặt khác, GDTC trực tiếp phát triển thể lực chung (nhanh, mạnh, bền, khéo, dẻo) và thể lực chuyên môn có ý nghĩa thực dụng đối với hoạt động nghề nghiệp thể thao và chữa bệnh [80].

GDTC kết hợp các mặt giáo dục khác như: đức, trí, thể, mĩ nhằm phát triển con người cân đối toàn diện.

Giờ học thể dục trong nhà trường đóng vai trò chủ đạo trong thực hiện GDTC trường học, hình thức GDTC có các giờ học lý thuyết và giờ học thực hành.

Giờ học lý thuyết là giờ học cơ bản nhằm trang bị kiến thức về TDTT và vệ sinh, sức khoẻ cho học sinh. Những kiến thức đó không chỉ cần thiết đối với HS mà còn là yếu tố văn hoá, là một phần cấu thành của kết quả học tập môn TD của HS.

Giờ học thực hành (thực chất là giờ học vận động) là giờ học đặc trưng của dạy học TDTT, có những đặc điểm chung của hình thức lớp - bài, trong đó GV giữ vai trò chủ đạo, điều khiển và trực tiếp tổ chức hoạt động dạy học. Sự tác động giữa GV và HS tạo nên điều kiện sư phạm tốt nhất cho quá trình GDTC.

Ưu thế của giờ học thực hành còn thể hiện ở chỗ có kế hoạch học tập chặt chẽ theo thời khoá biểu chung; lớp học có số lượng học sinh ổn định, cùng lứa tuổi, hoạt động chung, đã liên kết thành tập thể [45].

TDTT là một bộ phận của nền văn hóa xã hội, một loại hình hoạt động mà phương tiện cơ bản là các bài tập thể lực nhằm tăng cường thể chất con người hoặc nâng cao thành tích thể thao, góp phần làm phong phú đời sống tinh thần, giáo dục con người phát triển toàn diện, làm khởi dậy và phát huy tối đa mọi tiềm năng di truyền trong con người. TDTT bao gồm ba bộ phận chủ yếu cấu thành là TDTT trường học, TDTT quần chúng, thể thao thành tích cao. Ở Việt

Nam TDTT là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân [92].

Điều 20 luật TD, TT qui định về giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường như sau:

Giáo dục thể chất là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện [77].

Giáo dục thể chất là một phần của giáo dục cung cấp cơ hội cho tất cả trẻ em học về vận động cơ thể và tham gia hoạt động thể chất.

Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn thì cho rằng, GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người [85]. GDTC bao gồm dạy học động tác và giáo dục các tố chất thể lực. Dạy học động tác là nội dung cơ bản của quá trình giáo dưỡng thể chất. Còn giáo dục các tố chất thể lực là sự tác động hợp lý tới sự phát triển tố chất đảm bảo năng lực vận động. Trong đó, giáo dục thể chất (GDTC) là một thành phần quan trọng của chương trình giáo dục trong các trường Đại học.

Luật TDTT được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006 và Pháp lệnh TDTT năm 2000 đã qui định GDTC là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục, cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện. Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người học được tổ chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khoẻ nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện. TDTT trường học là bộ phận đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao sức khỏe và thể lực, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, ý chí, giáo dục nhân cách cho học sinh, sinh viên góp phần đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" [49] [57].

Từ mục tiêu chung đó, “chúng ta xác định mục tiêu GDTC cụ thể cho từng cấp học, bậc học, tiếp đó là sự cụ thể hơn trong các mục tiêu, tiêu chí môn học, bài học. Cấp độ sau là sự triển khai cụ thể hoá cấp độ trước, là thành phần cấu trúc, mục tiêu của cấp độ trước. Việc xác định mục tiêu càng cụ thể, càng chi tiết

đến đơn vị cuối cùng để có thể mô tả, đo đếm được thì càng thuận lợi, càng chính xác cho việc xác định các yếu tố như nội dung chương trình, biên soạn sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy, đào tạo và sử dụng đội ngũ giáo viên, quản lý quá trình giáo dục và đánh giá chất lượng giáo dục” [95].

Tóm lại, với các mục tiêu đã đề ra khi xây dựng chương trình giáo dục thể chất nội, ngoại khóa ở trường đại học cần lưu ý:

Chú trọng cái đích trọng tâm của giáo dục thể chất là bảo đảm cho sinh viên tập luyện TDTT giữ gìn sức khỏe và nâng cao thể lực, đồng thời kết hợp giáo dục đạo đức và các mặt khác liên quan.

Không quá thiên về việc trang bị các kiến thức, kĩ năng TDTT cơ bản mà không chú ý đến sự hưng phấn, phấn khích, vui vẻ khi tập luyện. Trạng thái tâm lý tiêu cực là một trong các nguyên nhân làm hạn chế việc phát huy tính tích cực dẫn đến hạn chế hiệu quả tập luyện TDTT của sinh viên.

Theo tác giả Lê Văn Lẫm, Phạm Xuân Thành, GDTC: “ngoài các tri thức lý luận cơ bản về TDTT và vệ sinh sức khoẻ còn có các bài tập thể chất là phương tiện chuyên môn cơ bản để rèn luyện thân thể. Hơn nữa phần sau lại chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều mới có thể đạt được mục tiêu và nhiệm vụ TDTT trường học đề ra”[44].

Ngoài ra cần lưu ý tới đặc điểm tâm - sinh lý của lứa tuổi sinh viên (18-22 tuổi), ở lứa tuổi này về mặt tâm lý các em thích chứng tỏ mình là người lớn, muốn được người khác tôn trọng. Các em đã có một trình độ hiểu biết nhất định có khả năng phân tích tổng hợp, lòng ham hiểu biết, nhiều hoài bão và có tính tự lập, thế giới quan đang hình thành và phát triển…tuy nhiên còn thiếu kinh nghiệm. Vì vậy khi xây dựng chương trình tôn trọng sở thích và trong quá trình giảng dạy cần xây dựng và xác định động cơ đúng đắn để gây cho các em hứng thú bền vững trong quá trình học tập và rèn luyện. Về mặt sinh lý ở lứa tuổi sinh viên các hệ chức năng: Hệ thần kinh, hệ vận động, hệ cơ, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp đều gần hoàn thiện vì vậy chương trình GDTC đưa ra cần phù hợp, đáp ứng và hỗ trợ sự hoàn thiện các hệ cơ quan trong cơ thể đối tượng SV.

Một phần của tài liệu Luan An Ma Thi Ngan.pdf (Trang 49 - 52)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(206 trang)