CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
4.2 Đánh giá NLCT của NHTM Việt Nam theo mô hình CMELS
4.2.4 Khả năng sinh lời
Khả năng sinh lời phản ánh kết quả hoạt động, đánh giá hiệu quả kinh doanh và mức độ phát triển của một NHTM. Kết quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2019 có những diễn biến theo tình hình chung của thị trường tài chính, năm 2011 đến 2015 hệ thống NHTM Việt Nam thực hiện mạnh mẻ tái cơ cấu hệ thống sau thời kỳ khủng hoảng 2008 – 2010, vì vậy từ 2013 đến 2015 kết quả hoạt động của các NHTM ở mức thấp, đến năm 2016 – 2019 kết quả được cải thiện rất nhiều sau giai đoạn tái cơ cấu hệ thống. Năm 2013 ROA bình quân toàn hệ thống là 0.5%, đến năm 2014 là 0.57%
và năm 2015 chỉ đạt 0.44% nhưng đến năm 2016 ROA bình quân toàn hệ thống đạt 0.6% và năm 2017 đạt 0.78% đến năm 2018 đạt 0.9% và năm 2019 đạt 1.01%.
Cùng với đó, ROE bình quân toàn hệ thống năm 2013 là 5.56%, năm 2014 6.43% và năm 2015 đạt 6.26% nhưng đến năm 2016 ROE bình quân của hệ thống là 7.2% và đến năm 2017 đạt 9.6%, năm 2018 đạt 11.8% và năm 2019 đạt 12.5%
Theo bảng 4.15 thì đến cuối năm 2019 nhóm các NHTM nhà nước có ROE bình quân cao nhất đạt 15.94% nhưng lại có ROA bình quân thấp nhất chỉ đạt 0.88%, trong khi đó nhóm các NHTM liên doanh và nước ngoài thì ngược lại, nhóm ngân hàng này có ROA bình quân cao nhất hệ thống 1.13% nhưng ROE bình quân thấp nhất hệ thống chỉ đạt 8.02%, điều này cho thấy chỉ số vốn chủ sơ hữu trên tổng tài sản của các NHTM nhà nước là thấp nhất và chỉ số này của các NHTM liên doanh và nước ngoài là cao nhất. Các NHTM cổ phần có chỉ số ROE và ROA ở mức bình quân của hệ thống, cụ thể ROA bình quân của nhóm các NHTM cổ phần năm
2019 là 1.07% và ROE là 14%, so với số toàn hệ thống tương ứng là 0.78% và 9.6%.
Bảng 4.15: ROA của các NHTM Việt Nam (%)
STT Loại hình NHTM 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 1 NHTM Nhà nước N/A 0,59 0,63 0.61 0.58 0.7 0.88 2 NHTM cổ phần N/A 0,46 0,36 0.39 0.75 1.0 1.07 3 NH Liên doanh, NN N/A 0,71 0,48 0.8 1.01 1.1 1.13 Tổng 0.50 0,57 0.44 0.6 0.78 0.9 1.01
Bảng 4.16: ROE của các NHTM Việt Nam (%)
STT Loại hình NHTM 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019
1 NHTM Nhà nước N/A 8,20 10,6 11.2 12.0 12.3 15.94 2 NHTM cổ phần N/A 5,60 4,43 5.4 10.2 12.8 14.00 3 NH Liên doanh, NN N/A 4,29 3,05 4.9 6.5 7.6 8.02
Tổng 5.56 6,43 6.26 7.2 9.6 11.8 12.5
Nguồn: Báo cáo thường niên NHNN 4.2.5 Khả năng thanh khoản
Thanh khoản ngân hàng là khả năng mà ngân hàng tức thời đáp ứng được nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng theo cam kết. Khi ngân hàng hạn chế về khả năng cung ứng đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời, hoặc chỉ có thể cung ứng với chi phí cao thì rủi ro thanh khoản ngân hàng xuất hiện, những ngân hàng thiếu hụt khả năng thanh khoản là biểu hiện của tình trạng không lành mạnh, ngân hàng đang gặp khó khăn, rất dễ rơi vào nguy cơ bị ồ ạt rút tiền của công chúng, nghiêm trọng hơn có thể làm sụp đổ ngân hàng và tác động xấu đến cả hệ thống. Khả năng thanh khoản của NHTM được thể hiện qua 3 chỉ số cơ bản là: (1) Chỉ số trạng thái tiền mặt được tính bằng (Tiền mặt + tiền gửi
thanh toán tại Ngân hàng Nhà nước + tiền gửi không kỳ hạn tại các tổ chức tín dụng)/tổng tài sản; (2) Chỉ số năng lực cho vay được tính bằng Dư nợ/tổng tài sản;
(3) Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động: Dư nợ/tiền gửi khách hàng.
Chỉ số trạng thái tiền mặt thể hiện khả năng thanh toán nhanh của NHTM tại thời điểm báo cáo, nếu chỉ số trạng thái tiền mặt càng lớn thì ngân hàng càng có khả năng thanh khoản tức thời để xử lý các nhu cầu tiền mặt tức thời, tuy nhiên nếu chỉ số này quá lớn sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của NHTM, vì vậy các NHTM cần quản trị thanh khoản sao cho vừa đảm bảo khả năng sinh lời vừa đảm bảo thanh khoản hợp lý. Theo số liệu bảng 4.17 thì chỉ số tiền mặt bình quân của các NHTM Việt nam trong giai đoạn 2013 – 2019 là 16.49%, tuy nhiên có sự khác biệt rất lớn giữa các NHTM, chỉ số thanh khoản cao nhất là 48.2% nhưng chỉ số thấp nhất chỉ có 3.29%, đều này cho thấy một số NHTM đang gặp vấn đề thanh khoản nhưng cũng có 1 số NHTM duy trì trạng thái thanh khoản quá cao.
Bảng 4.17: Tiền mặt và tiền gửi tại NHNN và các TCTD khác trên tổng tài sản của các NHTM Việt Nam (%)
Năm 2013 - 2019 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 Mean 16.49 19.95 18.93 15.57 14.57 15.91 14.27 16.16
Min 3.29 5.14 3.77 4.98 5.26 3.29 5.29 4.03
Max 48.20 41.48 41.47 46.39 33.12 48.20 33.29 44.47 Số quan
sát
217 31 31 31 31 31 31 31
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo thương niên của các NHTM Chỉ số năng lực cho vay phản ánh mức độ cho vay trên tổng tài sản của ngân hàng. Chỉ số này càng cao, khả năng thanh khoản càng thấp. Giai đoạn 2013 – 2019, chỉ số này tại các NHTM dao động từ 22.5% - 77% và có sự khác biệt giữa các ngân hàng theo từng năm. Tuy nhiên, đa số các NHTM có chỉ số năng lực cho vay trên 50%. Kết quả này phản ánh hoạt động chủ yếu của nhiều NHTM vẫn là hoạt động tín dụng, mức độ chuyển đổi chưa cao và chỉ ở một số NHTM lớn hoạt động lâu năm ở Việt Nam và các NHTM liên doanh và NHTM 100% vốn nước ngoài.