CHƯƠNG 6: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM TRONG AEC
6.3 Giải pháp nâng cao NLCT của NHTM Việt Nam trong AEC
6.3.1 Cơ sở để đưa ra các giải pháp
Cơ sở để đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong cộng đồng kinh tế ASEAN được dựa trên cơ sở lý thuyết, việc xây dựng mô hình nghiên cứu, phương pháp ước lượng mô hình và kết quả nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh của các NHTM trong cộng đồng kinh tế ASEAN và quan điểm, định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong thời gian tới. Trong phần này của luận án sẽ tóm lược kết quả nghiên cứu chính làm cơ sở đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM.
6.3.1.1 Kết quả từ nghiên cứu định tính
Phân tích định tính trong luận án này tác giả đánh giá năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam bằng cách tiếp cận nguồn lực với mô hình Camels và cấu trúc cạnh tranh ngành theo mô hình năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter.
Kết quả cho thấy bức tranh tổng thể về năng lực tài chính và các áp lực cạnh tranh mà các NHTM Việt Nam phải đối diện trong quá trình hoạt động của mình.
Quá trình phân tích cho thấy, trong bối cảnh gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN của hệ thống NHTM Việt Nam tác giả đã nhận diện một số kết quả sau:
Một là, áp lực đến từ các NHTM mới là không đáng kể nhưng áp lực đến từ các nhà đầu tư mới trong và ngoài nước sẽ làm tăng áp lực cạnh tranh lên các NHTM hiện tại.
Hai là, mức độ cạnh tranh của các NHTM là tương đối thấp so với thị trường ngân hàng các nước trong khu vực, tuy nhiên với sự tham gia của nhiều nhà đầu tư
mới thì dự báo trong tương lai áp lực cạnh tranh giữa các NHTM sẽ tăng lên rất nhiều.
Ba là, các sản phẩm thay thế cho các sản phẩm ngân hàng hiện còn ít, tuy nhiên với sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp thì đây sẽ là sản phẩm đe dọa đến thị phần sản phẩm tín dụng dành cho doanh nghiệp. Trong phân khúc tín dụng tiêu dùng, với sự phát triển các công ty tài chính, dịch vụ cho vay ngang hàng sẽ là mối đe dọa cho các ngân hàng.
Bốn là, nhà cung cấp chủ yếu của các NHTM hiện nay là nguồn tiền gửi dân cư của các khách hàng cá nhân với sản phẩm tiền gửi tiết kiệm, với đặc điểm chi phí chuyển đổi thấp và không có sản phẩm thay thế sẽ là quyền lực cao nhất đe dọa đến khả năng mặc cả của ngân hàng.
Năm là, với các khách hàng có qui mô lớn, gồm các tập đoàn, các tổ chức lớn với dư nợ và các gói sản phẩm đi kèm lớn, chiếm tỷ trọng thu nhập cao trong cơ cấu thu nhập của ngân hàng sẽ là những khách hàng có quyền lực lớn tăng áp lực lớn lên ngân hàng, như mặc cả, ép giá, đòi chất lượng cao....
Sáu là, năng lực tài chính (vốn CSH, tổng tài sản) của các NHTM Việt nam còn rất thấp so với các NHTM trong ASEAN sẽ là thách thức lớn về cạnh tranh khi các NHTM nước ngoài thâm nhập sâu vào thị trường Việt Nam.
6.3.1.2 Kết quả từ nghiên cứu định lượng
Mô hình và kết phân tích NLCT của NHTM Việt Nam
Năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam theo cách tiếp cận hiệu quả kỹ thuật. Mẫu nghiên cứu là 31 NHTM hoạt động Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2019. Mô hình nghiên cứu được xây dựng với 4 biến đầu vào là: (1) Vốn chủ sở hữu; (2) Tiền gửi của khách hàng; (3) Vốn khác; (4) Chi phí hoạt động và biến đầu ra: Tổng thu nhập hoạt động.
Phương pháp ước lượng mô hình nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng hai phương pháp là (1) Phương pháp phi tham số với cách tiếp cận phân tích bao dữ liệu (DEA) định hướng đầu vào và (2) Phương pháp tham số với cách tiếp cận phân tích biên ngẫu nhiên (SFA).
Kết quả ước lượng hiệu quả các ngân hàng thương mại Việt Nam bằng phương pháp DEA và SFA cho thấy hiệu quả của các ngân hàng thương mại của Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2019 là tương đối thấp, dẫn đến năng lực cạnh tranh thấp. Kết quả ước lượng mô hình bằng phương pháp DEA hiệu quả trung bình của các NHTM Việt Nam là 0.771 , trong khi đó kết quả ước lượng mô hình bằng phương pháp SFA hiệu quả trung bình của hệ thống là 0.701 kết quả cao nhất đạt 0.945, kết quả thấp nhất là 0.433.
Trong kỳ nghiên cứu, nhóm các NHTM Liên doanh và nước ngoài có hiệu quả bình quân cao nhất, nhóm các NHTM nhà nước có hiệu quả bình quân xếp thứ 2 và 2 nhóm này cách xa nhóm các NHTM cổ phần có hiệu quả bình quân trong kỳ nghiên cứu. Kết quả trên phản ảnh đúng thực tiễn tại Việt Nam, nhóm các NHTM nhà nước với lịch sử hình thành là phát triển lâu đời nhất, gồm những ngân hàng thương mại có qui mô lớn, nhận được nhiều ưu đãi từ nhà nước như đầu tư vốn, chính sách, con người....nên có hiệu quả cao hơn nhiều so với các NHTM cổ phần. Nhóm các NHTM liên doanh và 100% vốn nước ngoài, nhóm này là ngân hàng con của các tập đoàn tài chính ngân hàng hàng đầu thế giới và châu lục với ưu thế vượt trội về kinh nghiệm, công nghệ, nhân lực, vốn... nên việc dẫn đầu về hiệu quả so với các nhóm còn lại. Trong khi đó, nhóm các NHTM cổ phần, ngoài một số NHTM có tình hình hoạt động tốt nên có hiệu quả cao như ACB, Techcombank, Mbbank, VPBank... thì hầu hết các NHTM có qui mô nhỏ, các NHTM yếu kém trong diện tái cơ cấu... đều năm trong nhóm này nên hiệu quả bình quân thấp.
Mô hình và kết quả phân tích các yếu tố tác động đến NLCT của các NHTM Việt Nam.
Mô hình hồi quy Tobit trong nghiên cứu này dùng để đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Mô hình nghiên cứu gồm các biến độc lập: (1) SIZE – Tổng tài sản;
(2) EQT - Vốn chủ sở hữu; (3) DPRR - Tỷ lệ dự phòng rủi ro trên tổng dư nợ;
(4) TNL - Tỷ lệ thu ngoài lãi trên tổng thu nhập; (5) VN - Tỷ lệ vốn ngoại trên tổng nguồn vốn CSH; (6) GDP – Tốc độ tăng GDP/năm; (7) LPH - Tỷ lệ lạm
phát hàng năm; Biến phụ thuộc là điểm hiệu quả trong mô hình nghiên cứu đánh giá hiệu quả của các NHTM Việt Nam với phương pháp ước lượng DEA.
Kết quả từ mô hình hồi quy Tobit cho thấy các yếu tố như vốn chủ sở hữu của ngân hàng; tỷ lệ dự phòng rủi ro trên tổng dư nợ; tỷ lệ thu ngoài lãi trên tổng thu nhập; tỷ lệ vốn ngoại trên tổng nguồn vốn, GDP có tác động đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam trong thời kỳ nghiên cứu. Cụ thể như sau: (1) Yếu tố vốn chủ sở hữu của ngân hàng (EQT) có tác động hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam tại mức ý nghĩa 1%. (2) Tỷ lệ dự phòng rủi ro trên tổng dư nợ (DPRR) có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại tại mức ý nghĩa 10%. (3) Tỷ lệ thu ngoài lãi trên tổng thu nhập (TNL) có tác động gia tăng hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam tại mức ý nghĩa 1%. (4) Tỷ lệ vốn ngoại trên tổng nguồn vốn (VN) có ảnh hưởng tích cực đến việc gia tăng hiệu quả hoạt động của các ngân hang thương mại tại mức ý nghĩa 1%, (5) Tốc độ tăng trưởng GDP tác động đến hiệu quả của các NHTM Việt Nam ở mức ý nghĩa 10%.
Mô hình và kết quả phân tích NLCT của các NHTM Việt Nam trong cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)
Với mẫu nghiên cứu 130 NHTM tại 9 quốc gia trong cộng đồng kinh tế ASEAN trong giai đoạn 2013 - 2019. Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ thống NHTM Việt Nam có hiệu quả rất thấp dẫn đến năng lực canh tranh thấp so với hệ thống NHTM các quốc gia ASEAN. Kết quả ước lượng mô hình bằng DEA, hiệu quả của hệ thống NHTM Việt Nam trong thời kỳ nghiên cứu đạt 0.578, xếp 7 trên 9 hệ thống ngân hàng ASEAN, kết quả mô hình bằng phương pháp SFA là 0.828 xếp thứ 4 trong 9 hệ thống ngân hàng thương mại ASEAN trong thời kỳ mẫu nghiên cứu.
Từ kết quả này, tác giả đề xuất các giải pháp để các NHTM Việt Nam nâng cao hiệu quả hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh với hệ thống các ngân hàng thương mại trong cộng đồng kinh tế ASEAN.