CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
4.3 Đánh giá NLCT của NHTM Việt Nam theo mô hình Năm áp lực cạnh
4.3.5 Sức mạnh của nhà cung cấp
Theo Porter (1980), các nhà cung cấp có thể thể hiện sức mạnh mặc cả đối với các thành viên trong một ngành bằng cách đe dọa tăng giá hay giảm chất lượng
sản phẩm dịch vụ, các nhà cung cấp hùng mạnh có thể bằng cách đó vắt kiệt lợi nhuận trong một ngành nếu ngành đó không thể tăng giá bán để bù đắp sự gia tăng chi phí đầu vào. Đối với ngân hàng thương mại nhà cung cấp chủ yếu là khách hàng gửi tiền tiết kiệm, theo kết quả khảo sát của tác giả trên 152 khách hàng của các ngân hàng thì có 52.6% khách hàng lựa chọn ngân hàng dựa vào giá (lãi suất và phí), có 38.2% khách hàng ưu tiên hàng đầu đến chất lượng dịch vụ và 7.9%
lựa chọn dựa vào sự an toàn.
Bảng 4.32: Tiêu chí lựa chọn ngân hàng của khách hàng
Tiêu chí Số ý kiến Tỷ trọng (%)
Lãi suất và phí 80 52.6
Chất lượng dịch vụ 58 38.2
Sự an toàn 12 7.9
Khác 2 1.3
Nguồn: Tác giả khảo sát và tính toán Theo Porter (1980), những điều kiện khiến cho nhà cung cấp có sức mạnh mặc cả thường ngược lại những điều kiện đem lại sức mạnh cho khách hàng, một nhóm các nhà cung cấp sẽ có sức mạnh mặc cả nếu thỏa mãn những điều kiện sau:
Ngành cung cấp do một vài công ty thống trị và có tính tập trung cao hơn ngành khách hàng.
Porter (1980) cho rằng các nhà cung cấp bán hàng cho các khách hàng phân tán thường sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến giá, chất lượng và các điều kiện khác.
Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên nhà cung cấp chủ yếu của các NHTM là khách hàng gửi tiết kiệm và thông thường các khách hàng này là cá nhân với số tiền gửi mỗi người là rất nhỏ so với tổng số dư tiền gửi tại ngân hàng nên việc thống trị của cá nhân tác động đến giá là không thể.
Không bị ràng buộc phải cạnh tranh với những sản phẩm thay thế khác Theo Porter (1980), sức mạnh của ngay cả các nhà cung cấp lớn cũng có thể bị kiềm chế nếu sản phẩm của chúng phải cạnh tranh với các sản phẩm thay thế khác. Hiện nay, theo kết quả khảo sát thì chưa có sản phẩm nào có thể thay thế tiền
gửi dân cư đối với các NHTM, vì đây là nguồn vốn chiếm tỷ trong lớn trong vốn hoạt động thường xuyên của NHTM, vì vậy đây là yếu tố làm tăng quyền lực của nhà cung cấp của ngân hàng.
Bảng 4.33: Vai trò của tiền gửi khách với các NHTM
Đặc điểm sản phẩm Số ý kiến Tỷ trọng (%)
Không thể thay thế 9 90%
Có thể thay thế 1 10%
Nguồn: Tác giả khảo sát và tính toán Các sản phẩm của nhóm nhà cung cấp có đặc trưng khác biệt hoặc gây ra chi phí chuyển đổi
Theo Porter (1980), đặc trưng hóa khác biệt và chi phí chuyển đổi làm cho khách hàng mất đi lựa chọn buộc các nhà cung cấp phải cạnh tranh lẫn nhau, nếu các nhà cung cấp đối mặt với chi phí chuyển đổi, tác động xảy ra ngược lại. Kết quả khảo sát của tác giả cho thấy, đối với các khách hàng gửi tiết kiệm chi phí chuyển đổi là rất thấp so với lợi ích từ việc chuyển đổi, và theo Nguyễn Quang Vinh & Huỳnh Thị Phương Lan (2013), chi phí chuyển đổi của khách hàng gửi tiền là không đáng kể. Với những phân tích trên thì trong trường hợp này các ngân hàng sẽ ra sức giữ chân người gửi tiền và người gửi tiền có quyền lực để mặc cả buộc các ngân hàng tăng lãi suất tiền gửi cho mình.
Tóm lại, mô hình năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter được áp dụng để phân tích thực trạng cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Với phân tích trên cho ta thấy bức tranh tổng thể về các áp lực cạnh tranh mà các NHTM Việt Nam phải đối diện trong quá trình hoạt động của mình. Quá trình phân tích cho thấy, trong bối cảnh gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN của hệ thống NHTM Việt Nam tác giả đã nhận diện một số kết quả sau:
Một là, áp lực đến từ các NHTM mới là không đáng kể nhưng áp lực đến từ các nhà đầu tư mới trong và ngoài nước sẽ làm tăng áp lực cạnh tranh lên các
NHTM hiện tại khi ngành ngân hàng ngày càng hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đặc biệt khi gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN.
Hai là, mức độ cạnh tranh của các NHTM là tương đối thấp so với thị trường ngân hàng các nước trong khu vực, tuy nhiên khi gia nhập AEC với sự tham gia của nhiều nhà đầu tư mới thì dự báo trong tương lai áp lực cạnh tranh giữa các NHTM sẽ tăng lên rất nhiều.
Ba là, các sản phẩm thay thế cho các sản phẩm ngân hàng hiện còn ít, tuy nhiên với sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp thì đây sẽ là sản phẩm đe dọa đến thị phần sản phẩm tín dụng dành cho doanh nghiệp. Trong phân khúc tín dụng tiêu dùng, với sự phát triển các công ty tài chính, dịch vụ cho vay ngang hàng sẽ là mối đe dọa cho các ngân hàng.
Bốn là, nhà cung cấp chủ yếu của các NHTM hiện nay là nguồn tiền gửi dân cư của các khách hàng cá nhân với sản phẩm tiền gửi tiết kiệm, với đặc điểm chi phí chuyển đổi thấp và không có sản phẩm thay thế sẽ là quyền lực cao nhất đe dọa đến khả năng mặc cả của ngân hàng.
Năm là, với các khách hàng có quy mô lớn, gồm các tập đoàn, các tổ chức lớn với dư nợ và các gói sản phẩm đi kèm lớn, chiếm tỷ trọng thu nhập cao trong cơ cấu thu nhập của ngân hàng sẽ là những khách hàng có quyền lực lớn tăng áp lực lớn lên ngân hàng, như mặc cả, ép giá, đòi chất lượng cao....
Tóm tắt chương 4
Trong chương 4 tác giả đã đánh giá năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam bằng cách tiếp cận nguồn lực với mô hình Camels và cấu trúc cạnh tranh ngành theo mô hình năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter.
Với phân tích trên cho ta thấy bức tranh tổng thể về năng lực tài chính và các áp lực cạnh tranh mà các NHTM Việt Nam phải đối diện trong quá trình hoạt động của mình. Quá trình phân tích cho thấy, trong bối cảnh gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN của hệ thống NHTM Việt Nam tác giả đã nhận diện một số kết quả sau:
Một là, áp lực đến từ các NHTM mới là không đáng kể nhưng áp lực đến từ các nhà đầu tư mới trong và ngoài nước sẽ làm tăng áp lực cạnh tranh lên các NHTM hiện tại.
Hai là, mức độ cạnh tranh của các NHTM là tương đối thấp so với thị trường ngân hàng các nước trong khu vực, tuy nhiên với sự tham gia của nhiều nhà đầu tư mới thì dự báo trong tương lai áp lực cạnh tranh giữa các NHTM sẽ tăng lên rất nhiều.
Ba là, các sản phẩm thay thế cho các sản phẩm ngân hàng hiện còn ít, tuy nhiên với sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp thì đây sẽ là sản phẩm đe dọa đến thị phần sản phẩm tín dụng dành cho doanh nghiệp. Trong phân khúc tín dụng tiêu dùng, với sự phát triển các công ty tài chính, dịch vụ cho vay ngang hàng sẽ là mối đe dọa cho các ngân hàng.
Bốn là, nhà cung cấp chủ yếu của các NHTM hiện nay là nguồn tiền gửi dân cư của các khách hàng cá nhân với sản phẩm tiền gửi tiết kiệm, với đặc điểm chi phí chuyển đổi thấp và không có sản phẩm thay thế sẽ là quyền lực cao nhất đe dọa đến khả năng mặc cả của ngân hàng.
Năm là, với các khách hàng có quy mô lớn, gồm các tập đoàn, các tổ chức lớn với dư nợ và các gói sản phẩm đi kèm lớn, chiếm tỷ trọng thu nhập cao trong cơ cấu thu nhập của ngân hàng sẽ là những khách hàng có quyền lực lớn tăng áp lực lớn lên ngân hàng, như mặc cả, ép giá, đòi chất lượng cao....
Sáu là, năng lực tài chính (vốn CSH, tổng tài sản) của các NHTM Việt nam còn rất thấp so với các NHTM trong ASEAN sẽ là thách thức lớn về cạnh tranh khi các NHTM nước ngoài thâm nhập sâu vào thị trường Việt Nam
Những kết quả được rút ra từ phân tích của chương này sẽ làm cơ sở khoa học cho việc đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian tới, cũng như đưa ra những đề xuất cho các nghiên cứu tiếp về cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam được trình bày trong chương 6 và chương 7.
CHƯƠNG 5