CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
4.1 Tổng quan hệ thống NHTM Việt Nam
Ngân hàng Quốc gia Việt Nam chính thức được thành lập ngày 06/05/1951 theo sắc lệnh 15 của chủ tịch Hồ Chí Minh. Hơn sáu thập kỷ qua, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã không ngừng phát triển và có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Trước năm 1988 hệ thống ngân hàng Việt Nam là hệ thống ngân hàng một cấp, chỉ có ngân hàng nhà nước trung ương và hệ thống chi nhánh tại các địa phương theo địa giới hành chính, ngân hàng nhà nước vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước vừa thực hiện chức năng kinh doanh của ngân hàng thương mại.
Ngày 26/3/1988 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định 53/HĐBT với định hướng cơ bản là “ chuyển hẳn hệ thống ngân hàng sang hoạt động kinh doanh”. Tổ chức, bộ máy của Ngân hàng Nhà nước được kiện toàn, sắp xếp lại để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ tín dụng, đồng thời làm chức năng ngân hàng của các ngân hàng; các ngân hàng chuyên doanh thực hiện nhiệm vụ kinh doanh tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Theo đó, bốn ngân hàng chuyên doanh được thành lập trên cơ sở chuyển và tách ra từ Ngân hàng Nhà nước, gồm: Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Phát triển nông nghiệp, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
Tháng 5/1990, Hội đồng Nhà nước thông qua hai Pháp lệnh Ngân hàng. Hệ thống ngân hàng bắt đầu quá trình chuyển đổi mạnh mẽ, hệ thống ngân hàng được phân định chức năng rõ ràng. Ngân hàng nhà nước thực hiện chức năng của Ngân hàng trung ương quản lý nhà nước về hoạt động ngân hàng, các ngân hàng trung gian gồm các ngân hàng thương mại thực hiện chức năng kinh doanh và các loại hình ngân hàng khác như ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách…Với hai pháp lệnh ngân hàng được ban hành, nhà nước đã xóa bỏ được tính độc quyền nhà nước trong hoạt động ngân hàng bằng cách cho thành lập các ngân hàng thương mại
dưới các hình thức ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài… đã tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước vào lĩnh vực ngân hàng, giúp cho hệ thống ngân hàng Việt Nam đa dạng và phát triển về vốn, quy mô, công nghệ…thúc đẩy quá trình cạnh tranh và phát triển của hệ thống ngân hàng.
Năm 1997, Quốc hội thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Các tổ chức tín dụng, tạo nền tảng pháp lý căn bản hơn. Hệ thống các tổ chức tín dụng được chấn chỉnh, củng cố, từng bước xử lý nợ tồn đọng và nâng cao năng lực tài chính. Công nghệ ngân hàng có bước phát triển mạnh mẽ, hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng do Ngân hàng Thế giới tài trợ được vận hành chính thức từ tháng 5/2002, tạo tiền đề quan trọng cho quá trình đổi mới và hiện đại hóa hệ thống ngân hàng; các dịch vụ ngân hàng điện tử xuất hiện (E-Banking, Internet banking...).. Sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên WTO vào cuối năm 2006, hoạt động ngân hàng tiếp tục có nhiều đổi mới về điều hành, thể chế, cơ chế nghiệp vụ, công nghệ…
Đến tháng cuối năm 2019 cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng tại Việt Nam bao gồm: Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô, quỹ tín dụng nhân dân, văn phòng đại diện và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Hệ thống ngân hàng tại Việt Nam gồm có: ngân hàng hợp tác xã, ngân hàng chính sách xã hội và các ngân hàng thương mại. Các ngân hàng thương mại gồm có: 7 ngân hàng thương mại nhà nước là Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng TNHH MTV dầu khí toàn cầu, Ngân hàng TNHH MTV Đại Dương và Ngân hàng TNHH MTV Xây Dựng và 3 NHTM nhà nước nắm cổ phần chi phối gồm BIDV, Vietcombank, Vietinbank; 9 ngân hàng nước ngoài, 2 ngân hàng liên doanh và 28 ngân hàng thương mại cổ phần. Cho đến nay hệ thống các NHTM đã có mạng lưới bao phủ đến tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước, đặc biệt có NHTM đã xây dựng hệ thống các chi nhánh bao phủ đến tận huyện, thậm chí là tới các xã, liên xã; mạng lưới của hệ thống NHTM trải rộng khắp đến các vùng, miền của đất nước, qua đó ngày càng đáp ứng nhu cầu sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước.
Hình 4.1: Hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Theo báo cáo thường niên của Ngân hàng nhà nước, đến nay hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam có tổng cộng 46 ngân hàng, trong đó 7 NHTM nhà nước, 28 NHTM cổ phần, 9 NHTM 100% vốn nước ngoài và 2 NHTM liên doanh.
Qua các năm số lượng ngân hàng thương mại có sự thay đổi đáng kể do quá trình
tái cơ cấu hệ thống của chính phủ, từ 47 ngân hàng thương mại đầu năm 2013, đến cuối năm 2015 còn 43 NHTM, sự sụt giảm này là do NHNN cơ cấu lại các NHTM yếu kém, số lượng NHTM cổ phần giảm từ 36 ngân hàng trong năm 2013 còn 31 ngân hàng từ năm 2015. Số lượng NHTM liên doanh giảm từ 4 ngân hàng trong năm 2013 giảm còn 2 ngân hàng đến năm 2016, trong khi đó NHTM 100% vốn nước ngoài tăng từ 4 NHTM trong năm 2014 và 2014 lên 9 NHTM trong năm 2017 trong năm 2016 có thêm 3 và năm 2017 có thêm 1 NHTM 100% vốn nước ngoài, nâng tổng số các NHTM tại Việt nam lên 46 NHTM. Số ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước sở hữu 100% vốn tăng từ một ngân hàng năm 2012 (Agribank) lên 4 sau khi NHNN đứng ra mua lại GP Bank, VNCB và Ocean Bank với giá 0 đồng như một hình thức xử lý bắt buộc. Ngoài ra còn có 16 công ty tài chính và 10 công ty cho thuê tài chính đang hoạt động tại Việt Nam.
Bảng 4.1: Số lượng các tổ chức tín dụng đang hoạt động tại Việt Nam
STT Loại hình TCTD 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019
1 NHTM Nhà nước 2 2 4 4 4 7 7
2 NHTM cổ phần 36 36 31 31 31 28 28
3 NH Liên doanh 4 4 3 2 2 2 2
4 NH 100% vốn nước ngoài
5 5 5 8 9 9 9
5 Công ty tài chính 10 10 10 11 13 16 16
6 Công ty cho thuê tài chính
9 9 9 9 10 10 10
7 Tổ chức tài chính vi mô
2 3 3 4 4 4 4
8 Chi nhánh NH nước ngoài
42 43 46 47 48 49 49
Tổng 111 112 111 116 121 125 125
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước