Áp lực từ những sản phẩm thay thế

Một phần của tài liệu Đánh giá năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại việt nam trong bối cảnh gia nhập cộng đồng kinh tế asean (Trang 118 - 121)

CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

4.3 Đánh giá NLCT của NHTM Việt Nam theo mô hình Năm áp lực cạnh

4.3.3 Áp lực từ những sản phẩm thay thế

Theo Porter (1980), tất cả các doanh nghiệp trong một ngành đang cạnh tranh theo nghĩa rộng, với các ngành sản xuất các sản phẩm thay thế khác, xác định các sản phẩm thay thế là việc tìm những sản phẩm khác có thể thực hiện cùng một chức năng như sản phẩm của ngành. Đối với ngân hàng thương mại, sản phẩm

được chia làm 2 nhóm là tín dụng và phi tín dụng (các sản phẩm dịch vụ). Tín dụng là sản phẩm truyền thống lâu đời nhất của ngành ngân hàng, dù đã trải qua lịch sử hàng trăm năm nhưng đến nay vẫn chưa có sản phẩm nào thay thế được, tuy nhiên theo kết quả khảo sát, hầu hết các chuyên gia cho rằng hiện nay cùng với sự phát triển của công nghệ tài chính và thị trường tài chính với các dịch vụ cho vay ngang hàng và sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp một phần thay thế cho sản phẩm tín dụng của ngân hàng thương mại.

Theo báo cáo phân tích của công ty chứng khoán Vietcombank (VCBS), năm 2018 có 146 nghìn tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp được phát hành tăng 26.5% so với năm 2017 và nâng số dư trái phiếu doanh nghiệp trong năm 2018 lên 437 nghìn tỷ đồng, tăng 40.9% so với năm 2017. Với tốc độ tăng ngày càng cao của thị trường trái phiếu doanh nghiệp làm cho nhu cầu tín dụng ở phân khúc khách hàng doanh nghiệp ngày càng giảm, với ưu thế giá rẻ hơn, ổn định hơn, trong tương lai đây sẽ là nguy cơ sản phẩm này thay thế dần cho sản phẩm tín dụng dành cho doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn.

Bảng 4.27: Trái phiếu doanh nghiệp qua các năm ĐVT: Tỷ đồng

2014 2015 2016 2017 2018

PH ±% PH ±% PH ±% PH ±% PH ±%

48.047 19.9 42.769 -11 97.413 130 115.416 18.5 146.039 26.5 Số dư ±% Số dư ±% Số dư ±% Số dư ±% Số dư ±%

127.980 34.7 142.138 11.1 238.474 67.8 310.017 30 436.773 40.9 Nguồn: Công ty chứng khoán Vietcombank Theo kết quả khảo sát từ các chuyên gia thì 90% cho rằng phát hành trái phiếu doanh nghiệp sẽ là giải pháp mà các doanh nghiệp lựa chọn thay vì phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng từ các NHTM, đặc biệt là các doanh nghiệp có qui mô vừa và lớn, 80% cho rằng phát hành cổ phiếu sẽ là kênh huy động vốn cho các doanh nghiệp, 40% cho rằng cho vay ngang hàng sẽ là giải pháp tài chính tương lai có thể thay thế dần vốn tín dụng ngân hàng.

Bảng 4.28: Các sản phẩm thay thế cho tín dụng doanh nghiệp

Sản phẩm Số ý kiến Tỷ trọng (%)

Trái phiếu 9 80

Cổ phiếu 8 70

Vay ngang hàng 4 40

Nguồn: Tác giả khảo sát và tính toán Theo Brett King (2014) một thế hệ cho vay mới đang hoạt động tốt hơn, với chi phí thấp hơn và an toàn hơn so với những tổ chức đã phát minh ra ngành cho vay thương mại. Để hoạt động tốt hơn trong lĩnh vực cho vay, bí quyết là không nhất thiết phải thực hiện theo cách các ngân hàng thương mại. Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ tài chính trên thế giới đã hình thành nên các ngân hàng thế hệ mới, ngân hàng trực tuyến hoạt động thông qua internet, không cần nhân viên và văn phòng, với dịch vụ tín dụng theo phương thức mới dựa trên công nghệ tài chính là cho vay ngang hàng. Hiện nay tại Việt Nam dù chưa có thống kê chính thức nhưng có trên 100 công ty cung cấp dịch vụ cho vay ngan hàng, và mới đây và tháng 4/2019, Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước mới bắt đầu phát đi thông điệp sẽ cho thí điểm hoạt động cho vay ngang hàng tại Việt Nam sau khi Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 999/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ. Cùng với các Bộ, ngành liên quan, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) được Thủ tướng Chính phủ phân công một số nhiệm vụ quan trọng trong việc triển khai thực hiện đề án này. Với những diễn biến thực tế và động thái của Chính phủ, trong thời gian tới, dịch vụ cho vay này sẽ là mối đe dọa đến phân khúc cho vay tiêu dùng của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Theo kết quả khảo sát ý kiến chuyên gia thì 70% cho rằng cho vay ngang hàng sẽ là sản phẩm các khách háng cá nhân đặc biệt là trong phân khúc vay tiêu dùng lựa chọn vì tính tiện ích cũng như thời gian giải quyết yêu cầu vay vốn của khách hàng nhanh, trong khi đó có 60% chuyên gia cho rằng dịch vụ cầm đồ và vay dân sự khác sẽ là giải pháp cho các cá nhân nhỏ lẻ, tầng lớp bình dân....trong khi đó 50%

chuyên gia cũng cho biết với sự phát triển mạnh của ngành bán lẻ trong thời gian

qua, đặc biệt là thương mại điện tử, giải pháp tài chính tiêu dùng được nhiều người lựa chọn là mua hàng trả góp thay vì vay ngân hàng cho những nhu cầu mua sắm.

Bảng 4.29: Các sản phẩm thay thế cho tín dụng cá nhân

Sản phẩm Số ý kiến Tỷ trọng (%)

Cho vay ngang hàng 7 70

Dịch vụ cầm đồ, vay khác 6 60

Khác (mua hàng trả góp...) 5 50

Một phần của tài liệu Đánh giá năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại việt nam trong bối cảnh gia nhập cộng đồng kinh tế asean (Trang 118 - 121)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(246 trang)