Hạn chế về mô hình nghiên cứu

Một phần của tài liệu Đánh giá năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại việt nam trong bối cảnh gia nhập cộng đồng kinh tế asean (Trang 180 - 185)

7.2. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp

7.2.2 Hạn chế về mô hình nghiên cứu

Trong mô hình nghiên cứu năng lực cạnh tranh được xây dựng trong luận án.

Tác giả tiếp cận hiệu quả kỹ thuật theo hướng trung gian giữa các đầu ra và đầu vào của ngân hàng thương mại, với bốn biến đầu vào là (1) Vốn chủ sở hữu; (2) Tiền gửi (3) Vốn khác của NHTM; (4) Chi phí hoạt động và một biến đầu ra là Tổng thu nhập hoạt động, trong khi các yếu tố đầu vào và đầu ra của NHTM là rất đa dạng, vì vậy chưa phản ảnh đầy đủ hoạt động của các ngân hàng. Mặc dù, không có cách không có cách nào là hoàn hảo trong việc xác định đầu vào và đầu ra của ngân hàng vì không có cách tiếp cận nào có thể phản ảnh hết được tất cả các hoạt động, vai trò của ngân hàng với tư cách là tổ chức cung cấp các dịch vụ tài chính. Vì vậy, hạn chế của mô hình nghiên cứu này là chỉ tiếp cận theo hướng trung gian và chỉ giới hạn ở 4 biến đầu vào và một biến đầu ra, trong khi đó cách tiếp cận sản xuất cũng đem lại góc nhìn đa chiều và đầy đủ hơn, mặt khách đầu vào và đầu ra của NHTM ngày càng đa dạng, việc hạn chế 4 biến đầu vào và 1 biến đầu ra trong mô hình nghiên cứu là chưa phản ảnh hết mọi khía cạnh của hoạt động NHTM. Vì vậy các nghiên cứu tiếp cần xem xét bổ sung thêm các biến đầu

vào, đầu ra và tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau nhằm giúp hoàn thiện hơn mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM.

Mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động trong luận án này, tác giả chỉ xem xét 7 yếu tố gồm (1) Tổng tài sản; (2) Vốn chủ sở hữu (3) Tỷ lệ dự phòng rủi ro;

(4) Tỷ lệ thu ngoài lãi; (5) Tỷ lệ vốn ngoại; (6) GDP và (7) Tỷ lệ lạm phát. Trong khi đó hoạt động của NHTM chịu tác động từ rất nhiều yếu tố, cả bên trong lẫn bên ngoài, vì vậy chưa đánh giá hết các tác động mà NHTM gặp phải trong quá trình hoạt động. Mặt khác, các yếu tố ảnh hưởng này luôn luôn vận động và thay đổi theo thời gian và không gian nên các nghiên cứu tiếp theo cần xem xét đầy đủ ở nhiều khía cạnh khác nhau từ bên trong lẫn bên ngoài, từ đó xác định thêm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam.

7.2.3 Hạn chế về quy mô mẫu

Nghiên cứu chỉ thực hiện trên mẫu 31 trên tổng số 44 ngân hàng thương đang hoạt động tại Việt Nam và số lượng ngân hàng đại diện cho các loại hình sở hữu là có sự chênh lệch rất lớn như: 3 ngân hàng liên doanh và 100% vốn nước ngoài; 4 ngân hàng thương mại nhà nước (gồm NHTM nhà nước năm 100% vốn và NHTM nhà nước nắm cổ phần chi phối) và 24 ngân hàng thương mại cổ phần. Với sự chênh lệch về mẫu đối với các loại hình ngân hàng nên kết quả chưa phản ánh hết được bức tranh tổng thể về hiệu quả của các NHTM theo từng loại hình sở hữu khác nhau. Vì vậy các nghiên cứu tiếp theo có thể chọn mẫu với số lượng mẫu bằng nhau giữa các loại hình sở hữu.

Để đánh giá năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong cộng đồng kinh tế ASEAN, luận án sử dụng mẫu nghiên cứu là 130 trong tổng số trên 200 ngân hàng thương mại của 9 trên 10 quốc gia ASEAN (ngoại trừ Myanmar). Mặt khác số lượng NHTM của từng quốc gia có sự chênh lệch lớn như Việt Nam có 31 NHTM trong tổng số mẫu 130 NHTM, trong khi đó Brunie chỉ có 2 NHTM. Vì vậy chưa phản ảnh hết bức tranh tổng thể và chi tiết về hiệu quả và năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam và ASEAN. Các nghiên cứu tiếp theo cần có kích thước mẫu lớn hơn với các NHTM và quốc gia trong cộng đồng kinh tế ASEAN.

7.2.4 Định hướng nghiên cứu tiếp

Từ những hạn chế nêu trên như: hạn chế về cách tiếp cận; hạn chế về mô hình nghiên cứu; hạn chế về phương pháp; hạn chế về qui mô mẫu. Định hướng các nghiên cứu tiếp sẽ tập trung vào các vấn đề sau:

Thứ nhất, trong các nghiên cứu tiếp cần xem xét đánh giá năng lực cạnh tranh theo nhiều cách tiếp cận khác nhau để phản ánh chính xác và đầy đủ hơn và có cách nhìn tổng quan hơn về năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam.

Thứ hai, các yếu tố ảnh hưởng này luôn luôn vận động và thay đổi theo thời gian và không gian nên các nghiên cứu tiếp theo cần xem xét đầy đủ ở nhiều khía cạnh khác nhau từ bên trong lẫn bên ngoài, từ đó xác định thêm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam.

Thứ ba, các nghiên cứu tiếp theo cần có kích thước mẫu lớn hơn với các NHTM và quốc gia trong cộng đồng kinh tế ASEAN.

Tóm tắt chương 7

Trong chương 7 tác giả kết luận những kết quả nghiên cứu đạt được của luận án như (1) Đánh giá được thực trạng năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam; (2) Xác định các nhân tố và mức độ tác động của các nhân tố đến năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam; (3) Đánh giá, so sánh năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam với NHTM của các quốc gia trong cộng động đồng kinh tế ASEAN.

Kết quả nghiên cứu cho thấy năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam là tương đối thấp, đồng thời phát hiện yếu tố thu ngoài lãi tác động mạnh đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Kết quả cũng cho thấy rằng năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam còn thấp so với NHTM của các quốc gia trong cộng đồng kinh tế ASEAN.

Với hạn chế về nguồn lực như thời gian, nguồn dữ liệu... nên đề tài này còn một hạn chế như: Hạn chế về cách tiếp cận; Hạn chế về mô hình nghiên cứu; Hạn chế về phương pháp; Hạn chế về quy mô mẫu. Định hướng cho các nghiên cứu tiếp cần tiếp cận nghiên cứu năng lực cạnh tranh theo nhiều cách và phương pháp khác nhau, mở rộng qui mô mẫu cũng như các biến trong mô hình nghiên cứu năng lực cạnh tranh và các yếu tố tác động.

NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

1. Trinh Doan Tuan Linh, 2020. Non-Parametric approach to measuring the efficiency of banking sectors crediting agribusiness in ASEAN countries. E3S Web of Conferences, 175, 13031 (Scopus) https://doi.org/10.1051/e3sconf/202017513031

2. Trinh Doan Tuan Linh, 2020. Performance of Vietnamese commercial banks in ASEAN Economic Community. E3S Web of Conferences 164, 09001. (Scopus) https://doi.org/10.1051/e3sconf /202016409001

3. Trịnh Đoàn Tuấn Linh, 2020. Cạnh tranh của các NHTM Việt Nam:

Phân tích theo khung năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter. Tạp chí Kinh tế và dự báo. 03, 27 – 30.

4. Trịnh Đoàn Tuấn Linh, 2019. Năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và dự báo, 33, 133-137.

5. Trịnh Đoàn Tuấn Linh, 2019. Hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tạp chí Phát triển và hội nhập, 49, 42-48.

6. Trịnh Đoàn Tuấn Linh, 2019. Các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và dự báo, 30, 3-7.

7. Trinh Đoan Tuan Linh, 2011. For a better performance of Vietinbank after privatization”. Economic Development Review, 199, 13-17.

8. Trịnh Đoàn Tuấn Linh, 2010. Nâng cao hiệu quả hoạt động Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam. Luận văn Thạc sĩ Kinh tế. Đại học Kinh tế Tp.HCM.

Một phần của tài liệu Đánh giá năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại việt nam trong bối cảnh gia nhập cộng đồng kinh tế asean (Trang 180 - 185)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(246 trang)