CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại
Cho đến nay, có rất nhiều khái niệm về ngân hàng thương mại nhưng tựu trung lại, có thể hiểu ngân hàng thương mại là một định chế tài chính trung gian cung cấp các dịch vụ tài chính bao gồm nhận tiền gửi và cho vay tiền, thanh toán và các dịch vụ tài chính khác (Mishkin, 2001). Tổng quát lại thì Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và các dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất định so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế (Peter S. Rose, 2004).
2.1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại
Nhìn chung, ngân hàng thương mại có ba chức năng cơ bản: Chức năng trung gian tài chính, chức năng tạo tiền và chức năng sản xuất (Nguyễn Minh Kiều, 2007).
Chức năng trung gian tài chính: NHTM đóng vai trò là trung gian khi thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh chứng khoán và các hoạt động môi giới khác như: tư vấn đầu tư, môi giới bảo hiểm, bất động sản.... Vai trò trung gian của NHTM được hiểu là trung gian giữa các khách hàng với nhau, trung gian giữa NHNN và công chúng, trung gian giữa người mua và người bán, trung gian giữa người gửi tiền và người vay, giữa người chuyển tiền và người nhận tiền...
Chức năng tạo tiền: Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của ngân hàng thương mại là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Chức năng tạo tiền còn được gọi là chức năng tạo ra bút tệ phục vụ cho nhu cầu chu chuyển và phát triển nền kinh tế. Theo IMF và Worlbank thì khối tiền của một quốc gia bao gồm:
M1 = Tiền mặt phát hành + Tiền gửi không kỳ hạn
M2 = M1 + Tiền gửi có kỳ hạn và tiền tiết kiệm tại ngân hàng M3 = M2 + Tất cả các loại tiền gửi ở các định chế tài chính khác
L = M3 + Các loại trái phiếu, thương phiếu và các công cụ khác của thị trường tiền tệ.
Chức năng sản xuất: Thực hiện chức năng này, NHTM đóng vai trò như một doanh nghiệp sản xuất là sử dụng các nguồn đầu vào như: vốn, lao động, cơ sở vật chất để tạo ra các sản phẩm như: tín dụng, tiền gửi, dịch vụ thanh toán, thẻ, ngoại hối và các sản phẩm dịch vụ khác. Chức năng sản xuất của NHTM cho thấy rằng (1) Cũng như doanh nghiệp, ngân hàng thương mại muốn tồn tại và phát triển thì phải tiêu thụ được sản phẩm của mình, do vậy cần chú ý đến tiếp thị, bán hàng, khuyến mãi và dịch vụ hậu mãi; (2) Cũng như doanh nghiệp, NHTM phải chú ý đến nghiên cứu phát triển sản phẩm mới và thiết kế sản phẩm sao cho thỏa mãn tối đa nhu cầu và thị hiếu của khách hàng; (3) NHTM phải không ngừng quan tâm đến phát triển và đổi mới công nghệ ngân hàng, đặc biệt trong thời đại công nghệ 4.0 như hiện nay công nghệ ngân hàng thay đổi rất nhanh chóng.
2.1.1.3 Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thực hiện các hoạt động huy động tiền gửi của công chúng, sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và thực hiện các dịch vụ tài chính khác. Theo Nguyễn Minh Kiều (2007) Thì ngân hàng thương mại có các hoạt động chủ yếu sau:
Hoạt động huy động vốn: NHTM được huy động vốn dưới các hình thức như: (1) Nhận tiền gửi của các tổ chức, các nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác; (2) Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; (3) Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của các tổ chức tín dụng nước ngoài; (4) Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng nhà nước; (5) Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của Ngân hàng nhà nước.
Hoạt động cấp tín dụng: Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có
giá, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng nhà nước như bao thanh toán, tài trợ xuất khẩu, tài trợ nhập khẩu, cho vay thấu chi, cho vay theo hạn mức tín dụng và hạn mức tín dụng dự phòng...Trong các hoạt động cấp tín dụng cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: NHTM cung cấp các dịch vụ sau: Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong và ngoài nước cho khách hàng cá nhân và tổ chức, thực hiện việc thu hộ, chi hộ và cung ứng các phương tiện thanh toán, thực hiện thu và phát tiền mặt cho khách hàng, tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng và hệ thống thanh toán quốc tế (khi được NHNN cấp phép), thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng nhà nước.
Góp vốn mua cổ phần: Ngân hàng thương mại được dùng vốn tự có để góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp trong nước theo quy định của pháp luật.
Tham gia thị trường tiền tệ: Ngân hàng thương mại tham gia thị trường tiền tệ thông qua các hình thức mua bán giấy tờ có giá trên thị trường tiền tệ.
Kinh doanh ngoại hối: NHTM được trực tiếp kinh doanh hoặc thành lập công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế.
Ủy thác và nhận ủy thác: NHTM được ủy thác và nhận ủy thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng ủy thác, đại lý.
Tư vấn tài chính: NHTM cung ứng các dịch vụ tư vấn tài chính, tiền tệ, tư vấn đầu tư cho khách hàng dưới hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua công ty con, công ty trực thuộc.
Bảo quản vật quý giá: NHTM thực hiện các dịch vụ bảo quản vật quý và giấy tờ có giá, cho thuê két sắt, cầm đồ và các dịch vụ khác liên quan theo quy định của pháp luật.
2.1.1.4 Đặc điểm kinh doanh ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Sản phẩm có rất ít sự khác biệt: sản phẩm chủ yếu mà NHTM cung cấp cho khách hàng là quyền sử dụng tiền tệ theo thời gian và đồng tiền ở mọi ngân hàng có giá trị sử dụng như nhau nên NHTM khó có thể cung cấp sản phẩm khác biệt cho khách hàng. Ngoài ra các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng không được cấp bản quyền nên rất dễ dàng bị sao chép, vì vậy các sản phẩm dịch vụ của tất cả ngân hàng trên cùng thị trường là tương đối giống nhau. Chính vì điều này, các ngân hàng thường nâng cao khả năng cạnh tranh của mình bằng các khác biệt trong quy trình vận hành và qui cung cấp sản phẩm dịch vụ, khác biệt về các tính năng và sự trải nghiệm của khách hàng..
Giá cả hạn chế: Sản phẩm chính của ngân hàng thương mại là quyền sử dụng tiền tệ, giả cả của quyền sử dụng tiền tệ là lãi suất. Hiện nay lãi suất đầu vào và đầu ra của các ngân hàng rất ít linh hoạt, thậm chí còn chịu sự điều tiết của Chính phủ. Chính vì vậy, các ngân hàng thường cạnh tranh về quy mô, phương thức cung ứng và tiện ích hơn là giá bán hàng hóa, cạnh tranh dựa vào uy tín, thương hiệu hơn là sự khác biệt về giá sản phẩm.
Hoạt động của NHTM chịu sự ảnh hưởng và nhạy cảm của thị trường tài chính quốc tế: Cùng với quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế dòng vốn luân chuyển giữa các quốc gia ngày càng mạnh mẽ, các NHTM của bất kỳ quốc gia nào cũng phải liên kết với các NHTM ngoài nước để thực hiện trọn vẹn các dịch vụ của mình. Khi liên kết NHTM quốc gia phải tuân thủ các quy định và tiêu chuẩn quốc tế, chịu sự tác động của biến động thị trường tài chính quốc tế. Mỗi sự biến động về tỷ giá, lãi suất, điều kiện kinh tế cũng như chính sách tiền tệ của các trung tâm kinh tế quốc tế đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các NHTM trong nước. Việc tuân thủ những chuẩn mực quốc tế buộc các NHTM phải điều chỉnh hành vi cạnh tranh. Ngoài ra cùng với xu hướng tự do hóa thương mại, để phục vụ cho yêu cầu hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu, theo nguyên tắc hội nhập, các nước buộc phải tự do hóa trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, khiến cạnh tranh quốc gia trở thành cạnh tranh quốc tế ngay trên sân nhà.
Hoạt động có tính hệ thống: Tính hệ thống trong hoạt động của NHTM là các NHTM mặc dù cạnh tranh với nhau nhưng phụ thuộc lẫn nhau, hợp tác với
nhau để thực thi các chức năng có tính hệ thống như thanh toán liên hàng, nhận tiền gửi và cho vay lẫn nhau, hỗ trợ thanh khoản….ngăn chặn tác động dây chuyền làm sụp đổ hệ thống… Nói cách khác, NHTM cạnh tranh với nhau trong mối quan hệ biện chứng của các bộ phận hợp thành hệ thống, vì vậy cạnh tranh của hệ thống NHTM là cạnh tranh cùng phát triển.
Hoạt động trong môi trường có nhiều chủ thế khác có cùng sản phẩm: Trong điều kiện kinh tế thị trường hội nhập ngày nay ngoài NHTM ra còn có nhiều định chế tài chính tham gia hoạt động ngân hàng và cạnh tranh trực tiếp với NHTM trong một số sản phẩm, dịch vụ bao gồm: công ty tài chính, các quỹ tín dụng, cho vay ngang hàng, các hình thái tiết, công ty bảo hiểm, chứng khoán ….Vì vậy các NHTM không chỉ cạnh tranh với các NHTM khác trong ngành và còn phải cạnh tranh với các chủ thể khách đang từng ngày thâm nhập và tranh giành khách hàng với các NHTM.
Yêu cầu tuân thủ cao: Hoạt động của NHTM luôn đối diện với nhiều rủi ro như: Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động, rủi ro con người…Và các rủi ro từ một hoặc một số NHTM rất dễ dẫn tới rủi ro hệ thống ngân hàng và hệ thống tài chính quốc gia, từ đó ảnh hướng lớn đến nền kinh tế quốc dân, vì vậy NHTM chịu sự điều tiết và quản lý chặt chẻ của Chính phủ và NHNN, bị giới hạn bởi các quy chế an toàn bắt buộc và quy định chặt chẻ bởi các hành lang pháp lý trong việc thực hiện công việc kinh doanh của mình. Chính vì điều đó, khả năng quản trị rủi ro, kiểm soát nợ xấu…. góp phần vào gia tăng khả năng cạnh tranh của NHTM.