ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN

Một phần của tài liệu GIÁO ÁN GIẢNG DẠY NGỮ VĂN LỚP 10 (Trang 119 - 124)

1. Hình tượng con người th ờ i Trần:

- “Hoành sóc giang san kháp kỉ thu”

(Múa giáo non sông trải mấy thu)

+ Hoành sóc: cầm ngang ngọn giáo trấn giữ biên cương.

HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS NỘI DUNG BÀI HỌC - HS: Phát biểu.

- GV: Chốt lại:

 Cách dịch thơ chưa hoàn toàn chuẩn xác: “Hoành sóc” không phải là múa giáo mà là cầm ngang ngọn giáo, cắp ngang ngọn giáo.

- GV: Từ “Hoành sóc” này gợi cho ta hình dung được hình ảnh của người tráng sĩ với tư thế như thế nào?

- HS: Phát biểu.

- GV nói thêm: Tư thế này đã bị giảm đi khi dịch sang thơ là “múa giáo”.

- GV: Còn từ “giang san” có nghĩa là gì?

Cụm từ này gợi cho người đọc hình dung ra một không gian như thế nào?

- HS: Phát biểu.

- GV: Còn cụm từ “kháp kỉ thu” có nghĩa là gì? Cụm từ này cho ta biết được điều gì?

- HS: Trả lời.

- GV: Như vậy, trong một không gian và thời gian kì vĩ như thế, hình ảnh của người tráng sĩ hiện lên với tư thế và hành động như thế nào?

- HS: Phát biểu.

- GV: Trình bày dụng cụ trực quan:

Hình ảnh người tráng sĩ thời Trần.

- HS: Xem tranh.

- GV nói thêm:

+ Không gian và thời gian ở đây rất rộng lớn. Lồng vào không gian và thời gian này là hình ảnh của một con người dũng mãnh đang xông xáo, luôn ở tư thế sẵn sàng, bất chấp mọi hiểm nguy gian nan để chiến đấu bảo vệ non sông đất nước.

+ Đó chính là một tư thế hiên ngang, hào hùng, mang tầm vóc của vũ trụ.

- GV chuyển ý:

+ Nhưng điều mà câu thơ muốn nói không dừng lại ở đó. Câu thơ còn ẩn chứa một niềm tự hào của tác giả về trọng trách mà mình được đảm nhiệm; tự hào về tư thế hiên ngang, lẫm liệt của những tướng lĩnh và quân lính thời Trần.

 vẽ lên tư thế hiên ngang, kiên cường, lẫm liệt của người tráng sĩ.

+ Giang san: đất nước, non sông

 không gian rộng lớn, kì vĩ, có tầm vóc vũ trụ.

+ Kháp kỉ thu: đã trải qua mấy mùa thu, mấy năm rồi

 thời gian chiến đấu bảo vệ đất nước, bất chấp mọi hiểm nguy.

 Con người xuất hiện với tư thế, tầm vóc hiên ngang – hào hùng và có hành động lớn lao, kì vĩ.

HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS NỘI DUNG BÀI HỌC + Niềm tự hào đó còn được thể hiện ở câu

thơ thứ hai.

- GV: “Tam quân” ở đây có nghĩa là gì?

- HS: Trả lời.

- GV: Chốt lại:

- GV: Theo em, hình ảnh này còn mang ý nghĩa tượng trưng nào khác?

- HS: Trả lời.

- GV: Sức mạnh này đã được tác giả cụ thể hóa bằng biện pháp nghệ thuật gì?

- HS: Trả lời.

- GV: Thủ pháp so sánh này có hiệu quả gì?

- HS: Trả lời.

- GV: Khí thế đó còn được thể hiện như thế nào? Qua thủ pháp nghệ thuật gì?

- HS: Trả lời.

- GV: Ngoài cách hiểu này ta còn có cách hiểu nào khác?

- HS: Còn có cách hiểu – khí thế hùng dũng nuốt trôi cả trâu.

- GV: Theo em, trong hai cách hiểu trên, cách hiểu nào là hay hơn, có tính thẩm mĩ hơn?

- HS: Cách hiểu thứ hai là hay hơn và tính thẩm mĩ hơn.

- GV nói thêm:

+ Hiểu như lời dịch thơ cũng không sai.

Ba quân có sức mạnh tựa như hổ báo, nuốt trôi cả trâu. Song cách hiểu này không tạo ra được tính thẩm mĩ của thơ.

+ Ở đây ta nên hiểu: Ba quân có sức mạnh tựa như hổ báo, sức mạnh xung thiên, bốc lên tận trời, làm mờ cả sao Ngưu. Hiểu như thế vừa mạnh mẽ vừa giàu yếu tố thẩm mĩ cho thơ.

- GV: Từ cách hiểu đó, em hãy nêu nhận xét của mình về khí thế và sức mạnh của quân đội nhà Trần?

- HS: Nhận xét.

- “Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu.”

(Ba quân thế mạnh nuốt trôi trâu) + Tam quân:

 nghĩa hẹp: ba đạo quân (tiền quân, trung quân, hậu quân)

 nghĩa rộng: chỉ toàn thể quân dân thời Trần.

 tượng trưng cho sức mạnh của dân tộc.

+ Thủ pháp so sánh, ẩn dụ – “tì hổ”: sức mạnh như hổ báo

 làm nổi bật khí thế dũng mãnh, hào hùng của quân đội nhà Trần.

+ Thủ pháp phóng đại – “khí thôn Ngưu”:

khí thế hùng dũng át cả sao Ngưu.

 khí thế, sức mạnh làm lay chuyển cả đất trời.

HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS NỘI DUNG BÀI HỌC - GV: Tiểu kết.

- GV khẳng định thêm:

Tóm lại, chính những con người với tư thế hào hùng, hiên ngang, có tinh thần quyết chiến, quyết thắng (mà câu thơ đầu đã thể hiện) đã làm nổi bật được sức mạnh vật chất và cả tinh thần của dân tộc ta. Đó cũng chính là niềm tự hào của cả dân tộc chúng ta.

- GV chuyển ý:

Nếu như ở hai câu thơ đầu, Phạm Ngũ Lão bày tỏ niềm tự hào về hình ảnh hào hùng của dân tộc, thì đến hai câu thơ cuối, ông bày tỏ trực tiếp những điều trăn trở sâu kín trong lòng mình.

- Thao tác 2: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu nỗi lòng của tác giả.

- GV: Gọi học sinh đọc diễn cảm hai câu thơ cuối?

- HS: Đọc diễn cảm.

- GV định hướng cho học sinh tìm hiểu câu thơ thứ ba.

- GV: Em hiểu thế nào về hai cụm từ

“công danh nam tử” “công danh trái”?

- HS: Nêu lên cách hiểu của mình:

+ “công danh nam tử”: sự nghiệp và công danh của kẻ làm trai.

+ “công danh trái”: món nợ công danh sự nghiệp.

- GV: Chốt lại ý thứ hai.

- GV: Như vậy, theo em, ở đây Phạm Ngũ Lão có quan niệm như thế nào về hai chữ

“công danh”?

- HS: Trả lời.

- GV giải thích thêm:

+ Đây cũng là quan niệm của kẻ nam nhi trong xã hội trung đại. Người ta quan niệm rằng: Người đàn ông sinh ra là có món nợ tang bồng (tang: dâu, bồng: cỏ bồng; tang hồ bồng thỉ: cung bằng cành cây dâu, tên bằng cỏ bồng).

 Câu thơ làm nổi bật được sức mạnh,

“Hào khí Đông A” của dân tộc và niềm tự hào của tác giả.

2. Nỗi lòng của tác giả:

- “Nam nhi vị liễu công danh trái”

(Công danh nam tử còn vương nợ) + “công danh trái”: món nợ công danh, sự nghiệp của kẻ làm trai (công danh nam tử).

 công danh và sự nghiệp được coi là món nợ đời cần phải trả của kẻ làm trai

HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS NỘI DUNG BÀI HỌC Ngày xưa, hễ sinh ra con trai, người ta

dùng cung tên ấy bắn ra sáu phương, ngụ ý là sau này đứa con trai đó sẽ tung hoành giữa trời cao đất rộng, lập được công danh.

+ Chỉ ai trả được món nợ ấy mới xứng đáng là “nam tử”.

Ở đây, Phạm Ngũ Lão cũng đang bày tỏ cái chí đó của mình.

- GV: Quan niệm này cũng được một nhà thơ khác nhắc đến. Đó là nhà thơ nào? Hai câu thơ đó là gì?

- HS: trả lời:

Đó là nhà thơ Nguyễn Công Trứ - trong bài thơ “Chí nam nhi”:

“Làm trai đứng ở trong trời đất, Phải có danh gì với núi sông”

- GV: Theo em hiểu, cụm từ “nam nhi vị liễu” ở đây cho ta biết điều gì?

- HS: Trả lời.

- GV: Cụm từ này cũng đã bày tỏ khát vọng gì của Phạm Ngũ Lão?

- HS: Phát biểu.

- GV tiểu kết.

- GV giải thích thêm :

+ Như vậy, món nợ công danh hay là chí làm trai theo quan niệm của Phạm Ngũ Lão ở đây có tác dụng tích cực.

+ Nó thôi thúc, cổ vũ cho con người từ bỏ lối sống tầm thường, ích kỉ để sẵng sàng hi sinh, chiến đấu cho sự nghiệp chung của dân tộc.

- GV chuyển ý:

Từ suy nghĩ về cái nợ đó, trong tâm trạng của Phạm Ngũ Lão nảy sinh một nỗi

“thẹn”.

- GV: Vũ Hầu ở đây là ai mà tác giả lại cảm thấy thẹn khi nghe dân gian nhắc đến?

- HS: Trả lời theo chú thích của sách giáo khoa.

- GV: Trình bày dụng cụ trực quan:

+ Nam nhi vị liễu: chưa trả xong món nợ công danh của kẻ làm trai.

 khát vọng lập công, lập danh để giúp nước, giúp đời.

 Tác giả cho rằng mình chưa trả xong món nợ công danh nên trăn trở và băn khoăn.

- “Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”

(Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu) + Vũ Hầu: Khổng Minh Gia Cát Lượng đời Hán, nổi tiếng tài đức, có công lớn giúp Lưu Bị lập nên giang sơn.

HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS NỘI DUNG BÀI HỌC Hình ảnh của Khổng Minh.

- GV giải thích thêm về Khổng Minh:

+ Gia Cát Lượng là người tài năng xuất chúng và trung thành.Ông đã lập những mưu kế tài giỏi để giúp cho Lưu Bị lập nên nhà Thục, đánh bại tên tướng gian hùng là Tào Tháo.

+ Một trong các mưu kế của Khổng Minh còn lưu truyền lại cho đến ngày nay là chuyện ông dùng “kế hỏa công”. Tức là cho quân lính bắn từ xa những mũi tên có tẩm dầu để đốt cháy những chiến thuyền lớn của Tào Tháo, khiến cho Tào Tháo tổn thất nặng nề mà phải lui quân.

+ Ngoài ra, ông cũng có những cách để tập luyện cho quân lính bắn những mũi tên đi rất xa.

- GV: Như vậy, khi so sánh mình với Khổng Minh, tại sao Phạm Ngũ Lão cảm thấy hổ thẹn?

- HS: Trả lời.

- GV: Nỗi thẹn này cho ta thấy được nhân cách gì của Phạm Ngũ Lão?

- HS: Phát biểu.

- GV: Như vậy, qua hai thơ này, Phạm Ngũ lão bày tỏ khát vọng gì của mình?

- HS: Trả lời.

- GV khẳng định lại:

Đây cũng là cái chí, cái tâm của người anh hùng mà Phạm Ngũ Lão luôn luôn đeo đuổi và quyết tâm thực hiện bằng được.

- GV: Tổng kết lại nội dung bốn câu thơ:

Như vậy ta thấy nếu như ở hai câu thơ đầu, Phạm Ngũ Lão “tỏ lòng” một cách gián tiếp về sự tự hào và tin tưởng của nình vào sức mạnh của dân tộc, thì ở hai câu thơ sau, ông “tỏ lòng” một cách trực tiếp về ý thức phụng đất nước, ý thức trách nhiệm trước tổ quốc và nỗi thẹn rất cao cả của mình.

+ Nỗi thẹn :

 vì chưa có tài mưu lược lớn như Hầu Gia Cát Lượng để cống hiến cho đất nước.

 mang nhân cách cao cả: có khát vọng và có ý thức trách nhiệm đối với đất nước.

 Khát vọng phụng sự đất nước và lập công báo quốc.

Một phần của tài liệu GIÁO ÁN GIẢNG DẠY NGỮ VĂN LỚP 10 (Trang 119 - 124)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(216 trang)
w