VẬN NƯỚC (ĐỖ PHÁP THUẬN) CÁO BỆNH, BẢO MỌI NGƯỜI (MÃN GIÁC)
II. Đọc - hiểu bài kệ
a. Bốn câu đầu: Quy luật của sự sống.
- “Xuân khứ bách hoa lạc Xuân đáo bách hoa khai”
(Xuân qua trăm hoa rụng Xuân tới, trăm hoa tươi)
+ Cách nói theo trật tự khác thường: “hoa lạc – hoa khai” (hoa rụng – hoa tươi)
sự tuần hoàn của muôn hoa, muôn vật
+ Đối ngữ : “Xuân qua – xuân tới / Hoa rụng – hoa tươi” và điệp từ “trăm”
khẳng định quy luật luân hồi tuyệt đối, không có ngoại lệ
Phát hiện và tổng kết về quy luật kuân hồi, sinh hóa của tự nhiên, thiên nhiên.
- “Sự trục nhãn tiền quá, Lão tòng đầu thượng lai”
(Trước mắt việc đi mãi, Trên đầu già đến rồi)
+ Quy luật cuộc đời: tuổi già đến mà thời gian không ngừng trôi mãi
cuộc đời con người trong khoảnh khắc, chỉ là ảo ảnh
+ “Lão tòng đầu thượng lai”
tâm trạng: ngỡ ngàng, luyến tiếc vì thời gian trôi qua nhanh, tuổi già đã đến mà chưa làm được việc gì có ý nghĩa.
Tinh thần nhập cuộc, nhập thế tích cực: muốn làm việc có ý nghĩa cho đời.
-Hai câu cuối có phải là thơ tả cảnh thieân nhieân khoâng ?
-Câu đầu và câu cuối có mâu thuẫn khoâng ?
-Cảm nhận của anh chị về hình tượng cành mai trong bài thơ?
b. Hai câu cuối: quan niệm triết lí Phật giáo:
“Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”
(Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết, Đêm qua xuân trước một nhành mai) + Ý thơ: mâu thuẫn (với câu thơ mở đầu)
sự bừng ngộ về triết lí của Phật giáo: nếu được giác ngộ thì bản thể vĩnh hằng như cành mai bất chấp xuân tàn
+ Cách nói: khẳng định “Mạc vị xuân tàn”
cái đẹp của tinh thần lạc quan, kiên định trước sự biến đổi của đất trời
+ Hình tượng “Nhất chi mai”: vẫn tươi tắn giữa buổi xuân tàn
biểu tượng cho niềm tin, sức sống mãnh liệt của thiên nhiên và con người
Tâm trạng thanh thản, lạc quan trong tuổi già, thân bệnh.
c. Chủ đề:
Bài kệ là một lời triết lí Phật giáo nhưng cũng là quan niệm nhân sinh: có cái nhì lạc quan về cuộc sống, không thể sống vô nghĩa.
III. HỨNG TRỞ VỀ (Quy hứng) - Nguyễn Trung Ngạn
1. Tìm hiểu chung:
a. Tác giả:
- Nguyễn Trung Ngạn (1289 - 1370) quê ở huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.
- Làm quan đến chức thượng thư.
b. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ:
- Thời vua Trần Anh Tông, được cử đi sứ sang Trung Quốc.
- Bài thơ được làm lúc bấy giờ, tại Giang Nam.
-Nỗi nhớ quê hương ở hai câu đầu có gì đặc sắc ?
2. Đọc - hiểu bài thơ:
a. Nỗi nhớ quê hương chân thực, bình dị qua lòng yêu nước sâu sắc
- Cách nói tự nhiên, chân thực: dâu, tằm, hương lúa, đồng nội, cua đồng béo ngậy
những hình ảnh dân dã, quen thuộc gợi lên nỗi nhớ da diết nhất
- Hình ảnh : cuộc sống phồn hoa nơi đất khách
càng làm nhà thơ nhớ thương quê nhà nghèo khổ
Những hình ảnh dân dã, quen thuộc làm xúc động lòng người vì cảm xúc chân thực, tự nhiên.
-Phaân tích neùt rieâng cuûa tình yeâu quê hương ở hai câu cuối?
b. Lòng yêu nước qua niềm tự hào về đất nước:
- Những hình ảnh bình dị, mộc mạc: dâu, tằm, hương lúa, đồng nội, cua đồng
lòng yêu nước kín đáo qua việc tự hào về cuộc sống thanh bình nơi thôn dã.
- Cách nói đối lập: “bần diệc hảo” (nghèo vẫn tốt),
tự hào về làng quê tuy nghèo vật chất nhưng giàu nghĩa tình
- Kiểu câu khẳng định: “Giang Nam tuy lạc bất như quy” (Dầu vui đất khách chẳng bằng về)
Đất khách quê người tuy sung sướng nhưng chẳng bằng về ở tại quê nhà.
` HOẠT ĐỘNG 3: Hướng dẫn t ổng kết và luyện tập
c.
Tổng kết:
- Lòng yêu nước không chỉ thể hện ở những tình cảm lớn lao, cách nói trang trọng mà còn ở cách nói tự nhiên, chân thực về cái bình dị, nhỏ nhặt trong cuộc sống.
- Bài thơ thể hiện một quan niệm thẩm mĩ mới:
cái đời thường, bình dị cũng là đối tượng thẩm mĩ.
V. Củng cố, 2. Hướng dẫn chuẩn bị bài:
1. Củng cố :
Đọc lại ba bài thơ và nêu nội dung chính của từng bài.
2. Dặn dò :
- Học thộc lòng ba bài thơ, nắm kỹ nội dung chính của từng bài.
- Soạn bài mới :
Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng – Lý Bạch Câu hỏi:
GIÁO ÁN GIẢNG DẠY
Trường: THPT Cái Bè. Tuần lễ thứ: 15.
Lớp: 10. Môn: Đọc văn. Tiết thứ: 44