2.2. Đặc trưng thi pháp truyền thuyết
2.2.4. Thi pháp ngôn từ
Truyền thuyết và thần thoại là hai thể loại xâm nhập nhau một cách mạnh mẽ, xu hướng là truyền thuyết hoá thần thoại. Truyện Sơn tinh Thuỷ tinh ban đầu có thể là thần thoại gắn liền với việc giải thích hành động của thần núi và thần nước. Sơn tinh lại được nhập thân thành vị thần của núi Tản và thành Tản Viên sơn thần rồi lại được truyền thuyết hoá gắn với công trạng của thần.
Tuy nhiên ngôn ngữ kể hai thể loại này vẫn khác nhau. Nhân vật thần thoại được kể với một ngôn ngữ hồn nhiên, mộc mạc, nhân vật không có lí lịch rõ ràng như nhân vật truyền thuyết. Nhân vật truyền thuyết cũng gọi là thần thánh nhưng đó là sự tôn xưng của nhân dân và chính quyền phong kiến đối với nhân vật anh hùng còn thần trong thần thoại là hình ảnh của lực lượng tự nhiên.
Đặc trưng ngôn ngữ truyền thuyết bắt nguồn từ đặc điểm lời kể truyền thuyết. Có ba loại văn bản lời kể của truyền thuyết về nhân vật lịch sử. Văn bản lời kể được truyền tụng trong dân gian, gọi là văn bản truyền thuyết dân gian. Loại văn bản thứ hai là bản thần tích do chính quyền phong kiến thể chế, hành chính hoá dựa trên truyền thuyết dân gian như là bản tiểu sử về nhân vật anh hùng. Trong quá trình lưu truyền qua nhiều thế hệ thì lại xuất hiện một loại văn bản mới do sự kết hợp pha trộn hai loại văn bản kể vừa nêu trên. Tuy nhiên, văn bản kể mà chúng ta được biết ngày nay không thể nào xác định rõ nó là loại văn bản nào trong ba loại trên. Đặc điểm tiêu biểu của lời kể truyền thuyết là ngôn ngữ cô động, ít miêu tả, chủ yếu chỉ thuật lại hành động của nhân vật, chú ý kể những chi tiết về hoàn cảnh xuất thân của nhân vật, bối cảnh của câu chuyện, những lời thoại nhân vật một cách cô động. Những lời thoại nhân vật được chú ý kể là lời thể hiện khí khái, lòng nhiệt huyết của nhân vật đối với đất nước trong hoàn cảnh lâm nguy như lời của Dóng nói với sứ giả vua Hùng, lời khảng khái của bà Triệu: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi, đánh đuổi qua Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp người”. Đối với bộ phận truyền thuyết kết chuỗi, do có nhiều truyện cùng song hành tồn tại trong hệ thống chuỗi kể về nhân vật lịch sử nên chúng ta dễ nhận ra
82 Lê Đức Luận (2010), Hệ thống biểu tượng trong truyền thuyết, Thông báo Văn hóa dân gian, Nxb. KHXH, H., In trong Tiếp cận văn học nhà trường theo phương pháp phức hợp, Nxb. Văn học, 2015.
truyện mang đậm yếu tố thần tích, truyện mang đậm truyền thuyết dân gian. Ở những truyện mang đậm chất dân gian thì ngôn ngữ đầy ắp chất tưởng tượng tươi mát, bay bổng mà vẫn mộc mạc chất dân gian. Đó là những truyện Tại sao đầm Đượng có mười sáu đường nước chảy, Thuồng luồng ở cầu Hang, Núi chàng rể gù lưng, Đồi Đùm đứt quai, đồi Vai lọt sọt…trong chuỗi truyền thuyết về Tản Viên sơn thánh.83
Ngôn ngữ nhân vật đã bắt đầu có dấu ấn thể hiện bản chất nhân vật so với thần thoại. Lời thoại của nhân vật Trọng Thủy thể hiện sự lừa lọc, gian trá khi dụ Mị Châu xem nỏ và giả vờ quan tâm Mị Châu nếu sau này “hai nước xảy ra binh đao thì ta biết tìm nàng ở đâu” để biết đường rút chạy của An Dương Vương. Còn Mị Châu thì trái lại, ngây thơ trong sáng, tin tưởng đến ngờ nghệch ngu muội mà cho Trọng Thủy xem nỏ rồi báo cho hắn rằng “thiếp có áo lông ngỗng, thiếp sẽ rải dọc đường cho chàng biết mà tìm”. Thế là Mị Châu bị lừa vào mưu sâu kế độc mà không hề biết, kết quả là An Dương Vương thất bại và quân Triệu Đà nhờ vậy mà theo dấu vết truy đuổi tàn binh của Âu Lạc đến cùng.
Chúng tôi cho rằng có hai loại truyền thuyết: truyền thuyết truyện kể và truyền thuyết thần tích. Truyền thuyết truyện kể được ghi chép trực tiếp của người kể nên ngôn ngữ mang đặc điểm của ngôn ngữ bình dân. Truyền thuyết thần tích được các nhà Nho biên soạn dựa trên một thần tích. Truyền thuyết thần tích là loại truyền thuyết kể về sự tích các thần, chủ yếu gắn với thần tích các làng xã. Đây là loại truyền thuyết được biên soạn trong các tài liệu Hán Nôm mà theo các nhà biên tập sách Truyền thuyết dân gian người Việt (TTDGVN) là văn bản thần tích: kho AE của Viện Hán Nôm và bản khai thần tích của các làng xã vào năm 1938, hiện lưu giữ tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội.
Xã hội Trung đại, theo chúng tôi từ thế kỉ thứ I sau Công nguyên cho đến thế kỷ XIX. Thời Hùng Vương trở về trước là xã hội Cổ đại, từ thế kỉ XX đến nay là xã hội Hiện đại. Đặc trưng Trung đại trong ngôn ngữ truyền thuyết thần tích chính là yếu tố Hán Việt và tri thức Nho học trong tư duy ngôn ngữ. Đó là một lối văn viết theo lối điển cố điển tích, nhiều từ ngữ Hán Việt.
Truyền thuyết Hùng Vương là bộ phận truyền thuyết cổ xưa nhất, gần với phong cách thần thoại nhưng đặc trưng ngôn ngữ thời Trung đại khá rõ. Dù truyền thuyết có độ lùi so với sự kiện lịch sử xã hội, sớm nhất là một thế hệ và muộn nhất là một thế kỷ thì yếu tố Hán trong ngôn ngữ người Việt thời Hùng Vương là rất ít, có thể nói là không đáng kể. Phải đến 5 thế kỉ sau thì yếu tố Hán Việt mới xâm nhập vào ngôn ngữ Việt nhưng cũng chỉ sử dụng phổ biến trong đội ngũ quan lại, trí thức Nho học còn dân chúng thì vẫn dùng tiếng thuần Việt. Tuy nhiên, Yếu tố ngôn ngữ Hán Việt dùng trong truyền thuyết thời Hùng Vương khá hiện đại, chứng tỏ người biên soạn đã dùng kiến thức Hán học và kiểu thức văn chương Trung đại vào biên soạn truyền thuyết. Một điều khó chấp nhận là thời Hùng Vương mà nhân vật đọc các bài thơ Đường thi bằng tiếng Hán Việt như người uyên thâm Nho học. Cách kể về tiểu sử nhân vật truyền thuyết cũng quá rành rõ. Vào thời kì Hùng Vương, ngay cả niên đại cũng còn là vấn đề tranh cãi thì sao nhân vật thần lại rõ ràng cả họ tên, cả ngày sinh tháng đẻ, thậm chí cả giờ sinh mà ngay cả thời hiện đại, ít người có thể tường tận giờ sinh của con mình. Cách kể này khác hẳn với cách kể của truyền thuyết dân gian. Cùng kể về thần núi Tản Viên nhưng Truyện Tản Viên Sơn thánh kể lí lịch của Sơn thánh rất cụ thể, ràng rõ: Địa danh: ở tỉnh Hưng Hóa, phủ Gia Hưng, huyện Thanh Sơn có động Lăng Xương; tên cha:
Nguyễn Công Hạnh, tên mẹ Đinh Thị Điên; tên thần: Nguyễn Tuấn, sau đổi thành Nguyễn Tùng.
Trong khi đó, các truyện kể khác như bản Sự tích Đức thánh Tản chỉ kể “Vương là Sơn Tinh”; bản Nói về sự tích ông thần Tản viên cưới vợ kể “Ông Sơn thần ở núi Tản Viên”; bản Truyện núi Tản Viên cũng chỉ kể “tương truyền đại vương Sơn Tinh họ Nguyễn”; bản Tản Viên Sơn thánh kể rõ
83Dẫn theo Lê Trường Phát, Sđđ, tr. 30-31.
hơn, nhưng cũng chỉ kể “Động Lăng Xương bên bờ sông Đà có một người đàn bà tên là Hàn”.
Đặc điểm của truyện kể dân gian là lí lịch nhân vật không rõ ràng bởi lí do rất hiển nhiên là câu chuyện thuộc về quá khứ xa xăm, người ta chỉ biết đến sự tích nhân vật, chủ yếu là công trạng của thần, còn tên tuổi, quê quán khó kể rõ ràng cụ thể, đặc biệt là ít biết đến tên tuổi cha mẹ của thần.
Người ta cố tình cho nhân vật một lí lịch minh bạch, sáng rõ, thật ba năm rõ mười khi thần tích gắn với một địa phương nào đó, dù là thần tự nhiên. Người dân thờ thần bởi người ta tin vào sự linh thiêng, hiển ứng và phù trợ của thần đối với dân làng địa phương chứ không tin vào lí lịch cụ thể của thần.
Tính chất hiện thực lịch sử và nhu cầu phản ánh những vấn đề lịch sử trong truyền thuyết nên tên nhân vật phần lớn là xác thực với nhân vật lịch sử, chỉ có một số nhân vật anh hùng, nhân vật tướng lĩnh thì khó xác thực bởi những tên này chưa được sử sách ghi nhận, có chăng chỉ tồn tại trong thần tích mà thần tích thì ít nhiều thần thánh hoá. Bộ phận truyền thuyết thời Hùng Vương trở về trước, nhân vật chỉ là huyền sử, dã sử, nhân vật anh hùng được tôn xưng. Ngay cả tên vua hay tên triều đại cũng là vấn đề khó xác định. Chúng tôi cho rằng Hùng Vương là danh xưng triều đại chứ không không danh xưng dòng tộc vua. Dòng tộc vua phải là Lạc Vương, trong hệ thống dòng tộc Lạc Long Quân cùng với các danh xưng thời đó như lạc tướng, lạc hầu84.
2.2.5. Thi pháp không gian và thời gian 2.2.5.1. Thi pháp không gian
Không gian truyền thuyết có hai loại: không gian địa lí và không gian huyền thoại. Không gian địa lí là không gian có thật, không gian lịch sử. Không gian huyền thoại là không gian trong tâm thức tín ngưỡng về người anh hùng. Không gian huyền thoại khó xác định nơi chốn. Người ta không thể biết Lạc Long Quân sinh ra ở đâu, đi đâu, thoắt biến thoắt hiện. Theo Meletinsky, không gian huyền thoại được phân chia theo hệ thống chiều ngang và chiều dọc. “Mô hình vũ trụ theo chiều ngang – đó là cái nền không gian cho nhiều truyền thuyết về các cuộc phiêu lưu của các thượng thần. Cuộc chiến với những khổng lồ được tiến hành nhằm tranh giành các nữ thần và các báu vật…Yếu tố nước trong mô hình chiều ngang (biển) chủ yếu được nhắc tới với dấu hiệu phủ định”85 . Đặc điểm này thể hiện rõ trong truyền thuyết Sơn Tinh-Thuỷ Tinh của người Việt, hai vị thần đánh nhau để tranh giành người đẹp và của cải. Thuỷ Tinh thần Nước hàng năm dâng nước lên đánh Sơn Tinh là sự phủ định vai trò thống lĩnh của Sơn Tinh đối với vương quốc Núi và người đẹp.
Xét về tính chất thì truyền thuyết có không gian tự nhiên và không gian xã hội. Không gian xã hội là không gian đời thường, không gian chiến trường và không gian đất nước, trong khi đó thần thoại chủ yếu là không gian vũ trụ, không gian thiên nhiên. Trong truyền thuyết Thánh Gióng có không gian đời thường khi Gióng còn nhỏ và không gian chiến trường khi Gióng ra trận. Truyền thuyết An Dương Vương vừa có không gian đất nước bao quát một vùng đất vừa có không gian đời thường trong phạm vi gia đình Vua, vừa có không gian chiến trường.
Không gian tự nhiên, không gian địa lí trong truyền thuyết gắn liền với các địa danh, di tích cụ thể như làng Phù Đổng, huyện Quế Võ, Trân Sơn, núi Sóc Sơn (Thánh Gióng). Làng Phù Đổng cũng Loa, Phong Khê, núi Thất Diệu, Dạ Sơn (An Dương Vương). Thành Cổ Loa, tên cũ là Khả Lũ, còn gọi là Kim Lũ, tên huyện đời Hán gọi là trại Phong Khê, tên Nôm là Chạ Chủ hay kẻ Chủ, tên dân gian là xóm Gà86. “Chạ” là tên gọi chỉ là tương ứng với “kẻ”, tuy nhiên sau này
84 Lê Đức Luận (2007), Danh xưng trong truyền thuyết Họ Hồng Bàng, Tạp chí Non nước, số 120; In trong Tiếp cận văn học nhà trường theo phương pháp phức hợp, Nxb. Văn học, 2015.
85 Meletinsky, Thi pháp của huyền thoại, tr. 335-336
86 Tổng tập Văn học dân gian người Việt, Tập 19. Nhận định và tra cứu: Trần Quốc Vượng, Nguyễn Từ Chi :Từ việc nghiên cứu một số tên riêng trong các truyền thuyết nói về thời kì dựng nước, tr.699-716.
“kẻ” dùng với không gian rộng hơn, chỉ một vùng dân cư gắn với nghề nghiệp: kẻ Chợ, kẻ Biển, kẻ Rào…
Không gian gắn với hoạt động của nhân vật lịch sử. Không gian tự nhiên gắn với các nhân vật lịch sử nhà Lê. Không gian tự nhiên là đồng bằng, sông bãi, ao hồ: Các địa danh hai bên dòng sông: Đồng Kiệu Minh, Ngự Lâu (lầu vua ngự), Bãi Cồn trong truyện Vua Lê Đại Hành với sông Nhuệ. Lê Lợi đặt tên cho khe nước, chỗ quân ta phá được vòng vây là Vực Sống, chỗ nghĩa quân vượt sông là Vực Sáng, chỗ bác thợ săn giết chó là Vực Bỏ, bên kia sông là làng Ngòn, nay là xã Thượng Phong, xã Cao Thượng, Ngọc Lặc trong truyện Sông Cầu chó chạy đứt đuôi. Địa danh Cánh đồng Mẫu Hậu trong truyện cùng tên do Lê Lợi ban làm ruộng tế tự để thờ cúng người đàn bà giúp nghĩa quân Lam Sơn, thuộc xã Xuân Lai, Thọ Xuân, giáp với Phong Cốc bây giờ. Địa danh Ao Voi vốn trước có tên là ao Ông Khổng Lồ trong truyện Cánh đồng Ao Voi liên quan đến Lê Lợi. Đầm Xác Cáo (Tây Hồ) trong truyện Hồ Tây do Long Vương ra lệnh dâng nước công phá hang, cáo chín đuôi bỏ chạy, quân đuổi theo phá hang bắt cáo nên nơi này gọi là đầm Xác Cáo (Tây Hồ). Truyện Sự tích Hồ Gươm kể rằng vốn trước đây, hồ có tên là Tả Vọng nhưng sau sự kiện Lê Lợi du thuyền trên hồ mừng thắng lợi, Rùa Vàng hiện lên đòi lại gươm mà Long Vương đã cho mượn đánh giặc Minh thắng lợi nên hồ có tên là Hồ Hoàn Kiếm, còn gọi là Hồ Gươm cho đến bây giờ (Sự tích Hồ Gươm)... Không gian núi non liên quan đến nhân vật lịch sử như núi Mục (Sự tích núi Mục), núi Dầu (Sự tích núi Dầu) liên quan đến Lê Lợi; núi Khán trong truyện Phường Khán Xuân và núi Khán Sơn liên quan đến vua Lê Thánh Tông; núi Voi Phục trong truyện Chú Voi què hóa núi kể rằng con voi của Quang Trung hóa đá nên nhà vua đặt tên là núi Voi Phục.
Như vậy, có loại không gian mang tên do nhân vật lịch sử đặt gắn với sự kiện lịch sử, chuyển đổi từ loại không gian đời thường sang không gian lịch sử. Loại không gian này gắn với sự tôn vinh của nhân dân về người anh hùng dân tộc. Nó là những dấu tích lịch sử in tạc vào cảnh quan thiên nhiên.
Không gian kinh đô: Kinh đô Ngàn Hống trong Sự tích cố Đô Việt Thường; Thăng Long trong truyện Hồ Tinh. Danh thắng Chùa Một Cột ở kinh thành Thăng Long vốn là tên do nhà vua đặt chùa Diên Hựu trong Sự tích chùa Một Cột. Không gian làng xã: xã Quán Triều trong Sự tích xã Quán Triều; làng Hùng Thắng và Mỹ Xá trong truyện Đồng Bông, đống Bài là do vua Lê ban.
Các làng Chanh, làng Đùng, làng Truật trong truyện Nàng Liên Hương hay Sự tích làng Chanh, làng Đùng, làng Truật.
Địa danh Đầm Nhất Dạ và bãi Tự Nhiên trong truyện cùng tên kể về dấu tích nền lâu đài của Chử Đồng Chử và công chúa Tiên Dung. Người Ê Đê có truyền thuyết về “Sự tích dòng sông Pach, dòng sông Kro Buc”.
Địa danh liên quan đến nhân vật huyền thoại như đèo Mụ Giạ thuộc dãy Nam Giới, nằm giữa đất Tân Ấp của Hà Tĩnh và đất bản Thong Kham của nước Lào ngày nay do vua Hùng đặt để ghi côngngười đàn bà tạo ra địa giới phía Nam; núi Sõng Lớn, Sõng Con và đồi Đòn Gánh thuộc xã Kim Đức, huyện Phong Châu (truyện Đắp thành ngăn nước) do vị thần thời Hùng Vương tạo ra; núi Nghĩa, núi Vặn, núi Nỏn trong truyện cùng tên để ghi nhận tình nghiã của ba anh em vì nhau mà chết; núi Thăng Mã trong truyện Nàng Liên Hương hay Sự tích làng Chanh, làng Đùng, làng Truật; đèo Cổ Mã tại thôn Phú Lương, xã An Phú, huyện Tuy An trong truyện Ngựa bạch trung thành hay sự tích đèo Cổ Mã. Không gian núi trong truyện cùng tên như núi Mã Yên Sơn;
núi Trường Lệ; núi Sầm và Núi Nhạn vùng đất Tuy Hòa; núi Ngũ Hành; núi Phượng Hoàng; Hòn Núi Đất, Hòn Sang, Hòn Sầm, núi Quải thuộc huyện Ninh Hòa, Phú Khánh. Núi Yang Mao trong Sự tích núi Yang Mao của người Ê Đê.87
87 Lê Đức Luận (2016), “Đặc điểm truyền thuyết địa danh”, Khoa học Công nghệ Đại học Sài Gòn, số 19.