Những phương diện nghiên cứu thi pháp VHDG

Một phần của tài liệu Giáo trình thi pháp văn học dân gian (Trang 20 - 24)

1.3. Những trường phái và phương diện nghiên cứu thi pháp

1.3.2. Những phương diện nghiên cứu thi pháp VHDG

1.3.2.1. Nghiên cứu thi pháp VHDG theo miêu tả ngôn ngữ học

Theo từ điển tiếng Việt thì “hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng, có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ làm thành một thể thống nhất”. Trong hệ

25 Lê Đức Luận (2003), Bàn thêm về thuộc tính văn học dân gian, Nguồn sáng dân gian, số 1 (6), H.

26 Lê Đức Luận (2011), Điểm nhìn nghiên cứu văn học, Nxb. Đại học Huế.

27 Phương Lựu (2004), Lý luận phê bình văn học, Nxb. Đà Nẵng, tr.376-377.

28 Lê Đức Luận (2019), Đặc điểm giới trong ngôn ngữ ca dao người Việt, Kỉ yếu hội thảo Văn học giới, Đại học Sư phạm Huế, Nxb. Đại học Huế.

thống, quan hệ giữa các thành phần, đơn vị là quan hệ loại hình, quan hệ chi phối, quan hệ cấp bậc. Đây là quan điểm của nhà ngôn ngữ học Ferdinand De Saussure. Hệ thống có mối quan hệ chặt chẽ với cấu trúc. Mỗi hệ thống có một kiểu loại cấu trúc riêng hay những đơn vị cùng loại tập hợp thành hệ thống.29

Phương pháp hệ thống là đặt các hiện tượng văn học, các yếu tố cấu thành tác phẩm văn học thành hệ thống, là khám phá những liên hệ bên trong của một tổng thể, nghiên cứu sự thống nhất về cấu trúc của các yếu tố tạo thành tác phẩm văn học. Về một phương diện nào đó thì phương pháp hệ thống tương đồng với phương pháp cấu trúc như khám phá cấu trúc hay mối liên hệ bên trong của các yếu tố tạo nên hệ thống cấu thành một chỉnh thể nghệ thuật, bởi mối quan hệ chặt chẽ giữa hệ thống và cấu trúc, hệ thống nào thì cấu trúc đó. Nhưng phương pháp hệ thống bao quát hơn phương pháp cấu trúc. Phương pháp hệ thống bao quát tất cả các hiện tượng văn học: hệ thống trào lưu, hệ thống thể loại, hệ thống các biện pháp nghệ thuật, hệ thống các kiểu cấu trúc, hệ thống biểu tượng, hệ thống nhân vât, hệ thống cốt truyện, hệ thống hình ảnh… Phương pháp so sánh văn học cũng cần hệ thống để đặt các vấn đề văn học theo một tiêu chí nhất định. Về mặt nào đó thì phương pháp hệ thống cũng cần đến phương pháp loại hình khi đề cập đến hệ thống các loại hình văn học và phương pháp so sánh lịch sử khi đặt hệ thống các thể loại trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc và thế giới.

Phương pháp hệ thống và loại hình có những điểm gặp gỡ nhau. Tuy nhiên, điểm khác nhau giữa phương pháp loại hình và phương pháp hệ thống, theo Nguyễn Văn Dân là trong khi phương pháp loại hình chú ý đến quan hệ cộng đồng giá trị thì phương pháp hệ thống lại chú ý đến quan hệ phân cấp và quan hệ nhân quả . Nghiên cứu loại hình chỉ trong phạm vi một hệ thống còn nghiên cứu hệ thống thì có sự xâu chuỗi nhiều hệ thống có mối quan hệ qua lại, phân cấp lẫn nhau.

Về điểm này thì phương pháp hệ thống hỗ trợ cho phương pháp cấu trúc. Phương pháp cấu trúc cho phép ta chia nhỏ đối tượng nghiên cứu thành các hệ thống cấp bậc. Mỗi cấp bậc là một hệ thống riêng và dùng phương pháp hệ thống để định vị mối quan hệ của nó với cái trước nó và sau nó trong mối quan hệ nhân quả. Phương pháp hệ thống cho phép ta nghiên cứu một lúc nhiều hệ thống mà phương pháp loại hình không thể làm được. Chẳng hạn, khi nghiên cứu Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt, chúng tôi đã dùng phương pháp hệ thống không chỉ ở hệ thống câu mở đầu và mà cả hệ thống câu kết thúc, không chỉ hệ thống văn bản 2 câu mà cả hệ thống trên 2 câu… . Phương pháp loại hình gắn với thể loại, dưới nó là tiểu loại, không thể chia ra những đơn vị cấu tạo nhỏ hơn như phương pháp hệ thống và cấu trúc. Phương pháp hệ thống và phương pháp cấu trúc dù có quan hệ mật thiết với nhau nhưng phương pháp hệ thống nghiên cứu những lĩnh vực bao quát hơn cấu trúc. Phương pháp cấu trúc chỉ nghiên cứu vấn đề giới hạn trong hệ thống còn phương pháp hệ thống có thể nghiên cứu xâu chuỗi nhiều hệ thống, đặt những hiện tượng văn học vào hệ thống.Có hai hình thức ngôn ngữ trong tác phẩm là ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ văn vần. Ngôn ngữ văn vần có thể là ngôn ngữ của tác phẩm thơ và tác phẩm chưa phải là thơ ví như các tác phẩm diễn ca, tục ngữ, câu đố, vè…Ngôn ngữ văn vần có cả trong các tác phẩm sử thi, truyện thơ văn học dân gian và truyện thơ văn học viết. Có nhiều cách tiếp cận ngôn ngữ: ngôn ngữ biểu tượng, ngôn ngữ hình tượng, ngôn ngữ cấu trúc, phương thức tu từ, ngôn ngữ địa phương, ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ nghề nghiệp… Tuỳ theo điểm nhìn nghiên cứu mà sử dụng cách tiếp cận phù hợp. Về mức độ tiếp cận, có khi chỉ nghiên cứu một từ hay một ngữ của tác phẩm nhưng cũng có khi nghiên cứu toàn diện ngôn ngữ tác phẩm. Như vậy là có cách nhìn điểm và có cách nhìn diện.

Theo Nguyễn Thiện Giáp, “ý nghĩa của từ được nghiên cứu trong mối liên hệ hữu cơ với sự vật hoặc khái niệm mà từ gọi tên và biểu hiện; ý nghĩa của từ được phát hiện thông qua việc

29 Ferdinand De Saussure (2017), Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, Cao Xuân Hạo dịch, Nxb. KHXH.

miêu tả những thực tế mà thuộc tính của chúng được phát hiện và minh hoạ bằng các ví dụ trong việc dùng từ ấy.”30 Chẳng hạn từ “hoa hồng” trong ca dao được minh định ý nghĩa khái niệm với

“hoa đào, hoa lý, hoa sen, hoa nhài”… Thuộc tính của nó được miêu tả và minh hoạ trong mối tương quan với các loài hoa khác. Hoa hồng cùng với hoa đào tuy đẹp nhưng ít thơm, mau tàn, chóng phai còn hoa nhài không có cái đẹp rực rỡ nhưng hương thơm lâu bền:

Hoa hồng trông thật mĩ miều

Khoe hương buổi sáng, buổi chiều còn đâu Đào kia chưa thắm đã phai

Thoang thoảng hoa nhài mà được thơm lâu

Đặc biệt, hoa sen có cái đẹp bền lâu, bất chấp sự khắc nghiệt của thiên nhiên:

Hoa sen hoa khéo giữ màu

Nắng hồng không nhạt, mưa dầu không phai31

Việc nghiên cứu vai trò của từ trong tác phẩm văn học thì thủ pháp trường nghĩa được sử dụng khá phổ biến trên các phương diện: trường đối vị, trường tổng hợp, trường kết hợp. Nghiên cứu trường ngữ nghĩa trong các từ ngữ chỉ giới tính, tình yêu trong ca dao là một hướng nghiên cứu thú vị. Đối chiếu so sánh các trường nghĩa trong mối quan hệ cặp đôi nam nữ, trai gái, trời đất, núi sông trong ca dao, tục ngữ….Xem xét các trừơng nghĩa của các từ gần nghĩa, đồng nghĩa trong ca dao, tục ngữ…

Thủ pháp phân tích ngôn cảnh trong ngôn ngữ ở hai phương diện: ngôn cảnh tình huống và ngôn cảnh văn hoá. Phân tích ngôn cảnh tình huống trong tác phẩm văn học chính là phân tích hoàn cảnh sử dụng ngôn ngữ trong hội thoại giữa các nhân vật. Cùng sử dụng một số từ ngữ giống nhau nhưng cách sử dụng khác nhau có thể đem đến những ý nghĩa khác nhau. Cùng các từ: xuân, hạ, thu, đông nhưng trong hoàn giao tiếp khác nhau thì có ý nghĩa khác nhau. Một bài hát đối đáp phường vải ở Nghệ An, người con gái hát:

Cô Xuân mà đi chợ Hạ

Mua cá thu về chợ hãy còn đông

Trai nam nhi đối đặng thiếp theo không chàng về Chàng trai đáp lại:

Trai thanh Nam ngồi hàng thuốc Bắc Gái Đông sàng cảm bệnh lầu Tây Hai ta tình nặng nghĩa dày

Đối ra đáp được lúc này tính sao?

Đây là bài ca dao đối đáp chữ nghĩa mà các từ “xuân, hạ, thu, đông” chỉ các mùa trong một năm là các từ bên gái đưa ra để đối và bên trai đưa ra các từ “nam, bắc, đông, tây” chỉ phương hướng để đối lại. Nhưng ở một bài ca dao khác cũng dùng các từ “xuân, hạ, thu, đông” để biểu lộ tâm tình:

Mùa xuân em đi chợ Hạ

Mua cá thu về chợ hãy còn đông Ai nói với anh em đã có chồng Tức mình em đổ cá xuống sông em về

Đây không còn là đối đáp chữ nghĩa mà người nói cố tình đưa ra các từ sắp xếp theo thứ tự bốn mùa để ngầm nói tình yêu chúng mình đã trải qua bốn mùa, một năm rồi chứ không phải ngày một ngày hai, sao anh lại nghe người ta nói em đã có chồng để rồi hỏi em. Em có chồng với ai khi chúng mình đang yêu nhau, sao anh nông nổi cả tin như thế.

30 Nguyễn Thiện Giáp (2009), Các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, Nxb. Giáo dục, H., tr.26.

31 Lê Đức Luận, Mùa xuân và hoa trong ca dao, Ngôn ngữ và Đời sống, số 4 (126), H., 2006.

Đặt từ trong cấu trúc ngữ, cấu trúc câu sẽ làm rõ vai trò và ý nghĩa của nó trong văn cảnh.

Cùng một dạng cấu trúc cú pháp nhưng ngữ liệu khác nhau sẽ cho ta những ý nghĩa khác nhau, có thể là đồng nghĩa, trái nghĩa. Phân tích khả năng thay thế và kết hợp từ ngữ trong cùng văn cảnh, cùng cấu trúc câu sẽ thấy được những giá trị ngữ nghĩa của chúng. Trong quá trình ấy, thấy được sự cải biến của các cấu trúc từ ngữ. Cấu trúc thành ngữ và tục ngữ trong ca dao, tác giả dân gian đã sử dụng chúng, thay đổi và thay thế cho phù hợp với hoàn cảnh đối đáp, nói năng. Từ cấu trúc nguyên khối có thể thay đổi bằng cách tách cấu trúc hoặc thay đổi vị trí. Cấu trúc nguyên khối trong câu ca dao sau:

Tâm sự này biết tỏ cùng ai

Biết đâu cá nước chim trời là đâu

Cấu trúc “cá nước chim trời” đã được tách ra và đảo vị trí trong một lời khác:

Thiếp đây khác thể chim trời

Chàng như cá nước biết mấy đời gặp nhau

Cũng có loại giữ nguyên mô hình cấu trúc nhưng thay từ gần nghĩa, thay đổi vị trí. Câu ca dao:

Bõ công vượt bể băng ngàn

Bõ công bỏ sức tay mang khăn trầu

Ở bài ca dao khác, cấu trúc đảo vị trí và thay đổi từ tạo thành cấu trúc mới nhưng vẫn đồng nghĩa:

Phụ mẫu sinh được mấy người Mà anh băng bể vượt vời tới đây.

Với phương pháp so sánh, đối chiếu ngôn ngữ học, các công trình nghiên cứu tiếng Việt trong các tác phẩm văn học dân gian sẽ cần phải có sự khảo sát các yếu tố ngôn ngữ thuần Việt và ngôn ngữ Nam Á, Nam Đảo với yếu tố ngôn ngữ Hán Việt.

Sử dụng lí thuyết ngữ dụng học để nghiên cứu ngôn ngữ giao tiếp, ngôn ngữ hội thoại, ngôn ngữ trần thuật. Từ ngôn cảnh giao tiếp, phân tích tình huống giao tiếp, tâm lý giao tiếp, các đoạn thoại trong giao tiếp. Điều này không chỉ nghiên cứu ở địa hạt ngôn ngữ văn xuôi mà cả ngôn ngữ thơ. Ca dao là sản phẩm của các cuộc thoại nên cần nghiên cứu cấu trúc hội thoại, tìm thấy yếu tố hội thoại không chỉ trong các bài có các vế đối đáp mà còn trong các bài chỉ một vế. Điều này có thể thấy rõ trong bài ca dao “Xin áo”.32

1.3.2.2. Nghiên cứu thi pháp VHDG từ điểm nhìn văn hóa

Tất cả mọi vấn đề của khoa học xã hội nhân văn đều có liên quan đến văn hóa. Văn học là một loại hình nghệ thuật gắn kết chặt chẽ với văn hóa. Có thể nói, văn học là một hình thức biểu hiện văn hóa theo cách riêng – văn hóa được thể hiện bằng nghệ thuật ngôn từ, hay nói khác đi, văn học chứa đựng văn hóa. M.Bakhtin, giáo sư văn học người Nga là một trong những người đề xướng tiếp cận văn học bằng văn hóa. Năm 1968, trong lời giới thiệu viết cho cuốn sách Thơ Hồ Xuân Hương xuất bản bằng tiếng Nga, nhà Việt Nam học người Nga N. Nicutin đã dựa theo cách nghiên cứu của M.Bakhtin để so sánh sự xâm nhập của văn hóa dân gian Việt Nam vào thơ Hồ Xuân Hương. Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy đã dùng phương pháp nhân học-văn hóa học để lí giải thơ nữ sĩ Hồ Xuân Hương theo hướng văn hóa phồn thực. Ở đây, Đỗ Lai Thúy đã đề cập đến văn hóa tính dục33, gọi theo Nguyễn Văn Dân là văn hóa tình dục có lẽ khái quát và tránh thái quá hơn.

Cách thức tiếp cận tác phẩm văn học bằng điểm nhìn văn hóa là khảo sát những yếu tố văn hoá trong chi tiết nghệ thuật, trong hình tượng, biểu tượng của tác phẩm văn học. Yếu tố văn hoá trong thể thơ và kết cấu. Tính cách văn hoá biểu hiện qua lối sống, cách ứng xử, trong giới tính,

32 Lê Đức Luận (1998), Dạng tham thoại hẫng trong bài ca dao "Xin áo", Ngôn ngữ và Đời sống, số 2 (28), H.

33 Đỗ Lai Thúy (1999), Hồ Xuân Hương, hoài niệm phồn thực, Nxb VHTT, H.

tuổi tác, địa phương. Điều làm nên giá trị văn hoá biểu hiện qua ngôn ngữ tác phẩm, ngôn ngữ nhân vật. Nghiên cứu giá trị văn hóa bao hàm cả những vấn đề giao thoa, ảnh hưởng của các giai đoạn văn hóa như văn hóa cổ đại, văn hóa trung đại, văn hóa hiện đại, văn hóa khu vực và sự tương đồng văn hóa của các nước trong khu vực hay các nước láng giềng.

Văn học dân gian chính là văn hoá dân gian hay nói cách khác, văn học dân gian phản ánh văn hoá dân gian nên khi nghiên cứu văn học dân gian thì cần theo hướng nghiên cứu văn hoá học.

Các đề tài nghiên cứu văn hoá trong văn học như: Văn hoá ẩm thực trong ca dao, tục ngữ; Phong tục cưới xin trong ca dao, tục ngữ; Phong tục tang ma trong ca dao, tục ngữ; Phong tục sinh hoạt trong ca dao, tục ngữ; Mối quan hệ nhân sinh trong cổ tích; Trang phục và trang sức trong ca dao, tục ngữ; Tín ngưỡng đa thần trong văn học dân gian; Yếu tố Phật giáo, Đạo giáo trong cổ tích, ca dao; Yếu tố Nho giáo trong ca dao; Văn hoá nghề nghiệp trong ca dao; Phong tục làng quê trong vè; Văn hoá làng quê trong ca dao…

Theo điểm nhìn nghiên cứu văn hóa để khảo sát những yếu tố ngôn ngữ biểu hiện văn hóa đô thị trong ca dao Hà Nội. Yếu tố văn hóa đô thị được thể hiện qua các tiêu chí về nếp sống, sinh hoạt, nghề nghiệp, kinh tế thể hiện trong ca dao. Từ góc nhìn văn hóa để xem xét và lý giải cội nguồn và điều kiện địa lý, chính trị, kinh tế hình thành một vùng văn hóa đô thị và được thể hiện trong ca dao ở mức độ nào. Theo hướng nghiên cứu này, có thể khảo sát những yếu tố ngôn ngữ văn hóa thể hiện về phong tục người Việt xung quanh hình ảnh con lợn trong ca dao.

Khai thác những vấn đề biểu tượng trong văn học, đặc biệt là trong văn học dân gian chính là hướng nghiên cứu văn hoá. Nghiên cứu biểu tượng qua hình ảnh các cây con, biểu tượng về con hổ, con rồng có liên quan đến văn hoá, phong tục người Việt. 34

1.3.2.3. Nghiên cứu thi pháp VHDG theo văn học so sánh

Theo Nguyễn Văn Dân, so sánh là để xác định sự vật về phương diện định tính, định lượng hoặc ngôi thứ trong mối tương quan với các sự vật khác. So sánh thực chất là đối chiếu giữa hai đối tượng hoặc nhiều đối tượng để nhằm xác định rõ bản chất, đặc điểm của đối tượng cần đề cập đến. So sánh được áp dụng trong nhiều lĩnh vực như văn hóa, ngôn ngữ, văn học, triết học…Ngôn ngữ học đối chiếu đã trở thành một ngành nghiên cứu ngôn ngữ nhằm đối chiếu giữa hai hay nhiều ngôn ngữ cùng hoặc khác loại hình để xác định đặc trưng ngôn ngữ cần nghiên cứu. So sánh được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu văn học. So sánh văn học và văn học so sánh là hai vấn đề khác nhau về cấp độ. So sánh văn học là một phương pháp phổ quát chung cho việc nghiên cứu văn học. Không có lĩnh vực nghiên cứu văn học nào mà lại không cần đến so sánh. Nhưng so sánh phải cần có nguyên tắc, phương pháp phù hợp với đối tượng nghiên cứu. So sánh đồng dạng, đồng loại để tìm thấy sự giống nhau, sự gần gũi và sự sáng tạo riêng. So sánh khác loại, khác dạng để tìm thấy sự khác biệt và xâm nhập lẫn nhau. Có so sánh lịch đại và so sánh đồng đại. So sánh là một phương pháp trong nhiều phương pháp nghiên cứu văn học. So sánh là một phương pháp nghiên cứu văn học và khi có sự giao lưu văn hoá mạnh mẽ giữa các quốc gia là điều kiện xã hội để hình thành bộ môn văn học so sánh.

Sử dụng phương pháp nghiên cứu của ngành văn học so sánh là so sánh lịch sử gồm lịch đại, đồng đại. So sánh quá trình phát triển của các thể loại VHDG, so sánh cốt truyện nhân vật có cùng mô tip ví như kiểu truyện Tấm Cám, truyện Thạch Sanh, mô tip biến hóa nhân vật, so sánh các biểu tượng văn hóa trong các tác phẩm VHDG Việt Nam và thế giới…

Một phần của tài liệu Giáo trình thi pháp văn học dân gian (Trang 20 - 24)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(122 trang)